Kinh Đại Bát-Niết-Bàn Trích Giảng - Phần 7: Phẩm Tà Chánh

06/07/2024 | Lượt xem: 56

HT.Thích Thanh Từ dịch và giảng

PHẨM TÀ CHÁNH 

Bấy giờ Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Có phải cần y chỉ theo bốn hạng người như trên đã nói chăng?”

Phật dạy: “Chính thế! Này Ca-diếp! Nên phải y chỉ như Như Lai đã nói. Sao lại phải y chỉ với bốn bậc ấy? Vì rằng có bốn thứ ma.”

Ca-diếp Bồ-tát thưa: “Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy có bốn thứ ma. Nay con phải làm thế nào để phân biệt là lời của Phật, là lời của ma. Có những chúng sanh chạy theo hạnh ma, cũng có nhiều người thuận theo lời Phật dạy. Phải làm thế nào để biết rành hai hạng ấy?”

Ngài Ca-diếp thưa: Có người làm theo hạnh ma, có người làm theo hạnh Phật. Có người nói theo lời của ma, có người nói theo lời của Phật, làm sao con biết để giản trạch?

Phật dạy: “Này Ca-diếp! Sau khi Như Lai vào Niết-bàn bảy trăm năm, ma Ba-tuần sẽ ngăn trở và làm hại chánh pháp. Ví như thợ săn thân mặc pháp y, cũng vậy, ma vương Ba-tuần giả hình Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nó cũng hóa làm thân Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán và hóa làm hình Phật. Ma vương đem thân hữu lậu hóa làm thân vô lậu để làm hư hại chánh pháp. Thời kỳ ma vương Ba-tuần làm hư hại chánh pháp, nó sẽ nói rằng xưa kia Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất chết, rồi sanh nơi cung vua Bạch Tịnh tại thành Ca-tỳ-la-vệ, nương sự ái dục hòa hiệp của cha mẹ sanh dục mà có thân. Không bao giờ có người nào sanh trong loài người mà được đại chúng cõi trời cõi người tôn kính.

Trường hợp thứ nhất, nếu người nào nói Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất chết, rồi sanh nơi cung vua Bạch Tịnh tại thành Ca-tỳ-la-vệ, nương sự ái dục hòa hiệp của cha mẹ sanh dục mà có thân. Không bao giờ có người nào sanh trong loài người mà được đại chúng cõi trời cõi người tôn kính. Lời nói như vậy là của ma Ba-tuần. Tại sao? Vì Phật ở đây là pháp thân bất sanh bất diệt. Nếu thấy sanh diệt ấy chỉ là sự thị hiện hay hóa hiện mà thôi. Nếu nói thị hiện hay hóa hiện thì không phải là lời nói của ma. Còn nếu nói sanh thật, tử thật..., là lời nói của ma.

Và lại nói rằng xưa kia khổ hạnh bố thí những đầu, mắt, tủy, não, bố thí những vợ, con, quốc thành, nên nay đặng thành Phật, vì thế nên được chư thiên, chư thần cùng mọi người cung kính. Nếu có kinh luật nào nói như lời trên đây, phải biết đó là lời của ma.

Đây là điều mà mình không dám nhận. Chính trong kinh Bổn Sanh Bổn Sự nói. Phật có khi ở đời làm người có khi làm thú thực hành hạnh bố thí ba-la-mật, nhẫn nhục ba-la-mật... Vì công hạnh tu nhiều đời nhiều kiếp đó nên nay mới thành Phật, được chư thiên chư thần, chúng sanh cung kính cúng dường. Những điều này chúng ta quá quen thuộc, nhưng tại sao bây giờ Phật lại nói nói như vậy là ma? Bởi vì Phật muốn mọi người đạt được pháp thân bất sanh bất diệt, nên nói rằng tất cả mọi việc hiện ra làm người làm thú... chỉ là thị hiện để giáo hóa chúng sanh, không phải do hành động đó mà thành Phật. Pháp thân là Phật từ vô thủy kiếp đến giờ, đâu phải mới thành. Nên nói tu mọi hạnh để thành Phật là nhìn trên tướng trạng, không phải đạt được pháp thân. Những kinh nói như thế chưa phải cứu cánh, chưa phải cùng tột. Vì vậy ở đây Phật bác, nói là lời của ma chưa phải lời Phật, lời của Phật là chỉ thẳng cho tất cả chúng sanh thấy được Phật tánh, pháp thân. Pháp thân thì đã có từ vô lượng kiếp, đâu phải do mới tu mà thành. Tất cả những việc bố thí tủy não, quốc thành, thê tử... chỉ là những thị hiện của Bồ-tát thôi, không phải sự thật. Nếu hiểu là thị hiện thì không có lỗi, nếu nói do làm như thế mới được thành Phật thì không phải. Những hành động tạo tác thuộc về pháp hữu vi, là hành pháp hữu vi, mà hành pháp hữu vi làm sao có thể đạt được vô vi, làm sao được pháp thân bất diệt. Chỉ một phen chúng ta trực ngộ trực nhận được thì thấy pháp thân, thành Phật được. Nếu nói do những hành động trên mà thành Phật thì đó là ông Phật được làm ra, là ông Phật sanh diệt, không phải bất sanh bất diệt. Đây là chỗ hết sức khó, nếu không giải thích kỹ thì sẽ nghi, không thể nào tránh khỏi.

Bây giờ lặp lại ý đó một lần nữa. Có người nào không tu mà thành Phật không? Ai cũng nói do tu mới thành Phật. Nếu nói do tu mới thành Phật thì Phật là hữu vi, vô thường, Phật do mình tạo ra thì không thật, như tượng Phật do thợ nắn ra. Nhưng nếu không tu thì không bao giờ thành Phật. Chúng ta phải hiểu những điểm chính yếu này. Chúng ta đã có sẵn Phật tánh từ vô lượng kiếp, mà bị vô minh che lấp. Tu là dẹp vô minh chứ không phải là làm ra Phật tánh. Dẹp vô minh thì Phật tánh hiển lộ. Cũng như có ngọn đèn mà bóng bị đóng khói đen cho nên không thấy ánh sáng. Muốn ngọn đèn đó sáng phải lau bóng. Đó chỉ là lau khói bụi đóng chứ không phải lau để có ánh sáng. Khi khói bụi hết thì ánh sáng tự hiện. Nếu như lau mà có ánh sáng thì không đúng, nhưng không lau thì cũng không có ánh sáng. Vậy nên mới nói tu mà không tu. Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Đó là những câu khó hiểu trong Phật pháp.

Phải khéo dẹp những tánh xấu, những mê lầm thì Phật tánh mới hiện bày. Phật tánh đã sẵn bây giờ mới hiện, không do mình tạo. Vì không phải mình tạo nên mới chân thật. Nếu nói rằng do Phật lúc xưa tu khổ hạnh, bố thí... bây giờ mới thành Phật, đây là lời nói của ma.

Như vậy những kinh Đại thừa nói Bồ-tát bố thí... thì có phải là ma nói hay không? Thật không phải vậy, chúng ta nên hiểu Bồ-tát có khi thị hiện làm người, có khi thị hiện làm trời, có khi làm tất cả chúng sanh nữa, bởi vì muốn giáo hóa chúng sanh mà làm những công hạnh đó, nên chẳng phải lỗi lầm.

Này Ca-diếp! Nếu kinh luật nào nói đức Như Lai chánh giác đã thành Phật từ lâu, vì muốn cứu độ chúng sanh nên nay mới thị hiện thành Phật, và vì tùy thuận theo thế gian nên cũng thị hiện có cha mẹ, nhân nơi ái dục hòa hiệp mà sanh. Phải biết kinh luật này chính thật là của Như Lai nói.

Phật xác nhận rõ ràng như vậy. Nếu kinh nào nói pháp thân, Phật tánh do làm ra thì đều là ma nói. Nói pháp thân, Phật tánh sẵn có, bây giờ phá hết mê lầm liền thấy, đó là Phật nói. Nói tất cả những hành động mà Phật thị hiện là vì lợi ích chúng sanh thì đó là Phật nói.

Nếu ai tin theo lời ma, thời là quyến thuộc của ma. Bằng người nào có thể tùy thuận kinh luật của Phật, người đó là Bồ-tát.

Như vậy nếu theo ma là quyến thuộc của ma, còn nhận đúng tinh thần của Phật nói thì đó là Bồ-tát.

Nếu có chỗ nào nói không nên tin rằng lúc mới sanh, cả bốn phương Như Lai đều đi bảy bước. Phải biết đây là lời của ma. Ai tùy thuận theo lời ma thời là quyến thuộc của ma.

Nếu nói lúc Như Lai mới ra đời cả bốn phương đều đi bảy bước, đó là Như Lai phương tiện thị hiện. Phải biết đây là kinh luật của Như Lai nói. Người nào tùy thuận lời Phật dạy, thời là bậc Bồ-tát.

Nếu có chỗ nói khi Bồ-tát giáng sanh, phụ vương cho người đem đến miếu thờ trời, tất cả chư thiên, thần, như Đại Tự Tại thiên, Đại Phạm thiên vương, thiên Đế-thích v.v... thảy đều chắp tay lễ chân Bồ-tát. Đây là lời của Phật. Người thuận theo lời này là bậc Bồ-tát.

Người nào nói không nên tin Phật sanh ra có đi bảy bước thì đó là ma nói. Tại sao Phật lại nhấn mạnh điểm này? Bởi vì nếu nói Phật mới sanh ra đi bảy bước rồi tay chỉ trời tay chỉ đất như vậy chứng minh rằng Phật thị hiện mà sanh ra, thì đúng tinh thần nhận được pháp thân bất sanh bất diệt. Đó là người hiểu được pháp thân, mà hiểu được pháp thân là Bồ-tát. Nếu nói điều đó không thật thì đó là phàm phu, là ma. Nếu tin được Phật sanh ra đi bảy bước là do phương tiện thị hiện thì là lời nói của Phật, tin được như vậy là Bồ-tát.

Chỗ này rất tế nhị nhưng nếu nhận được ý này chúng ta mới thấy sự cao siêu của kinh điển Đại thừa. Bao giờ đọc kinh điển Đại thừa ta cũng thấy có vẻ huyền bí, như phóng hào quang khiến mười phương thế giới hợp thành một thế giới... Nhưng đó là biểu tượng pháp thân Phật trùm khắp mười phương. Khi đạt được pháp thân thì mười phương pháp giới đều tùy theo ý mình, tự tại với không gian. Khi nói tuổi thọ Phật vô lượng vô biên không thể tính kể là đạt được pháp thân vượt ngoài thời gian. Không những kinh Đại Bát-niết-bàn nói tuổi thọ vô lượng mà tất cả những kinh Đại thừa đều nói như vậy. Vì pháp thân vượt ngoài thời gian và trùm khắp không gian. Thời gian và không gian đều là từ pháp thân biến hiện. Vì vậy Phật có thể tự do thị hiện thế nào cũng được. Pháp thân bất sanh bất diệt và thường trú cho nên Phật đản sanh, có gia đình là pháp thị hiện; nếu cho là thật tức si mê lầm lẫn, là ma nói. Vì vậy ở đây quan trọng chữ “Tùy duyên thị hiện”.

Nếu nói khi Bồ-tát giáng sanh, phụ vương cho người đem đến miếu thờ trời, tất cả chư thiên thần, như Đại Tự Tại thiên, Đại Phạm thiên vương, thiên Đế-thích v.v... thảy đều chắp tay lễ chân Bồ-tát. Đây là lời của Phật. Người thuận theo lời này là bậc Bồ-tát. Nhiều người cho rằng Phật cao ngạo, cho mình là trên hết. Nhưng chúng ta đã nghe, hiểu rằng pháp thân trùm tất cả tam giới, mà chư thiên dù ở Vô sắc giới cũng nằm trong tam giới, thì làm sao chư thiên không thuộc vào pháp thân. Nếu nói chư thiên bằng hoặc có trước pháp thân thì ngoài pháp thân còn có pháp khác, ngoài tâm còn có vật thì chưa phải là cứu cánh, chưa phải là Đại thừa. Vì vậy tất cả chư thiên đều phải cung kính cúng dường.

Nếu gạn rằng: Trời sanh trước, Phật sanh sau, cớ sao chư thiên lại lễ kính Phật? Phải biết lời gạn này là lời của ma Ba-tuần. Nếu ai thuận theo lời gạn này thời là quyến thuộc của ma. 

Nếu chỗ nào nói: Lúc làm thái tử, vì lòng tham dục, nên Bồ-tát cưới vợ, hưởng thọ khoái lạc nơi chốn thâm cung. Nên biết trên đây là lời của ma vương. Người thuận theo đây thời là quyến thuộc của ma.

Đây nếu có người nào gạn trời sanh trước, Phật sanh sau... đó là ma Ba-tuần, là quyến thuộc của ma. Nếu chỗ nào nói, lúc làm thái tử, vì lòng tham dục... thì đây cũng là quyến thuộc của ma.

Nếu nói rằng: Từ lâu, Bồ-tát đã bỏ lìa tâm tham dục, vợ con, cho đến sự vui vi diệu của Tam thập tam thiên, như bỏ đờm mũi, huống là sự vui ở cõi người. Bồ-tát cạo bỏ râu tóc, xuất gia hành đạo. Đây là lời Phật nói, là kinh luật của Phật. Người thuận theo đây thời là Bồ-tát.

Nếu người nào biết Bồ-tát sanh trong cung vua, có gia đình có vợ con, có những thú vui theo thế gian đó chỉ là thị hiện, chứ tâm ngài đã lìa các điều đó rồi, hiểu như vậy đúng là hiểu theo lời Phật nói, đó là kinh luật của Phật, hiểu như vậy là Bồ-tát.

Nếu có chỗ nói, tại Kỳ Hoàn tinh xá ở nước Xá-vệ, vì lòng đại từ thương xót chúng sanh, nên Phật cho các Tỳ-kheo nuôi tôi tớ, voi ngựa, gia súc, chứa vàng bạc châu báu, cho buôn bán, gieo trồng v.v... Phải biết đây là lời của ma. Ai thuận theo đây thời là quyến thuộc của ma.

Nếu nói rằng, tại nước Xá-vệ nơi tinh xá Kỳ Hoàn, trước vua Ba-tư-nặc và Cổ-chi-đức Bà-la-môn, đức Phật cấm các Tỳ-kheo không được nuôi chứa và làm các điều trên. Người phạm các điều này thời không được ở trong hàng Tỳ-kheo, phải hoàn tục, như đám cỏ trong ruộng lúa cần phải nhổ bỏ. Đây chính là kinh, luật của Phật. Người thuận theo đây thời là bậc Bồ-tát.

Nếu có người nào nói đức Phật vì lòng thương xót chúng sanh nên Phật cho các Tỳ-kheo nuôi tôi tớ, voi ngựa v.v... thì đó là ma nói. Ngược lại nói đức Phật cấm không cho thì đó là Phật nói. Như vậy Phật cấm những điều đó thì thật, còn nói Phật cho những điều đó là không thật. Tại sao? Vì sự thật là Phật cấm nhưng có một vài trường hợp đặc biệt Phật cho, chứ không phải Phật quyết tình cho, hiểu như vậy mới khỏi lầm.

Nếu nói rằng: Thái tử Bồ-tát thị hiện vào miếu thờ trời, ở trong pháp ngoại đạo xuất gia tu hành, thị hiện biết tất cả oai nghi lễ tiết, khéo hiểu biết tất cả văn tự kỹ nghệ, thị hiện làm bậc tôn quý nhất trong các giai cấp của xã hội, dầu vậy, Bồ-tát chẳng có lòng luyến ái, như hoa sen không nhiễm bùn nhơ. Vì độ chúng sanh nên Bồ-tát phương tiện thị hiện thuận theo thế pháp. Những lời trên đây là của Phật nói, người thuận theo đây là bậc Bồ-tát. Nếu nói trái lại thời là lời của ma cùng quyến thuộc của ma.

Nếu những người nói những lời trên đây là lời Phật nói, người tùy thuận lời trên đây là Bồ-tát, nói trái lại là lời của ma. Như vậy, đức Phật chúng ta thờ ngồi trên tòa sen, tượng trưng Phật sanh ra ở trong thế giới Ta-bà này mà lòng không nhiễm ô, không dính dục lạc chẳng khác nào hoa sen từ bùn mà lên. Nếu cho là Phật sanh ra cũng hưởng giàu sang sung sướng, các thứ dục lạc của thế gian, sau chán nản rồi đi tu, như vậy ngài cũng có tâm nhiễm ô như chúng ta, thì không phải là tinh thần Đại thừa. Cho nên với tinh thần Đại thừa, Phật ở trong ô trược mà không dính với ô trược. Phật ngồi trên tòa sen là hình thức đặc biệt của Đại thừa.

Nếu người cố chấp chín bộ kinh luật không chịu tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa, cho rằng không phải của Phật nói, vì trong kinh luật của họ không có nói đến. Phải biết người này có tội, không phải đệ tử của Phật.

Nếu có người tin chín bộ kinh nói trước mà không tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa thì những người đó là những người có tội, không phải là đệ tử của Phật.

Nếu người tin kinh điển Phương đẳng Đại thừa, cho rằng vì độ chúng sanh nên Như Lai nói kinh Đại thừa. Người này chính thật là đệ tử của Phật.

Nếu có chỗ nói, Như Lai không phải là kết quả của vô lượng công đức, là vô thường biến đổi, do chứng pháp Không nên tuyên nói lý vô ngã, chẳng thuận với thế gian. Đây là lời của ma, người tin lời này thời là quyến thuộc của ma.

Nếu nói rằng Như Lai là bậc Đẳng chánh giác không thể nghĩ bàn, là kết quả của vô lượng công đức, là thường trụ không biến đổi. Đây là lời Phật nói, ai thuận theo lời này thời là bậc Bồ-tát.

Không thừa nhận rằng Như Lai sẵn có vô lượng vô biên công đức mà cho Như Lai là vô thường biến đổi, do chứng được pháp Không nên tuyên nói lý vô ngã, thì đó là lời của ma, ngược lại là lời Phật.

Nếu có Tỳ-kheo thật không chỗ được mà dối hiện tướng đã được, cùng nói được các pháp hơn người, thời phạm tội Ba-la-di, mất pháp làm người, như viên đá bể hai không còn liền lại được.

Nếu người tu hành không chứng được mà dối hiện nói mình chứng được là phạm tội phá giới, mà tội phá giới này là đại vọng ngữ nên nói là Ba-la-di, không cứu được như viên đá bể hai không lành lại được.

Nếu có Tỳ-kheo giới đức trong sạch, ít muốn biết đủ, ở nơi vắng vẻ rảnh rang. Vua quan gặp Tỳ-kheo cho là bậc A-la-hán, rồi cung kính khen ngợi rằng Đại sư đây sau khi bỏ thân này sẽ chứng quả vô thượng Bồ-đề. Tỳ-kheo nghe được liền cải chính là mình chưa chứng quả thánh và khuyên vua quan chớ nhận lầm. Nhà vua vẫn cố kính tin và loan truyền cho mọi người cùng tôn trọng cúng dường. Tỳ-kheo này thật là người giới đức trong sạch nên làm cho mọi người được phước đức lớn. Tỳ-kheo này không phạm tội Ba-la-di vì tự mọi người sanh lòng kính tin cúng dường. Nếu nói Tỳ-kheo này mắc tội, phải biết đó là lời của ma. 

Lại Tỳ-kheo giảng tuyên giáo điển Đại thừa rất sâu của chư Phật rằng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có Phật tánh sẽ dứt trừ vô lượng phiền não bèn thành bậc Vô thượng Chánh giác, trừ hạng nhất-xiển-đề.” Nếu có người hỏi Tỳ-kheo: Nhà thầy có Phật tánh chăng? Sẽ được làm Phật hay không? Tỳ-kheo đáp: Chính tôi đây quyết định có Phật tánh, còn thành Phật hay không chưa có thể thẩm định. Người lại nói Đại đức không phải hạng nhất-xiển-đề, tất được thành Phật không còn nghi ngờ gì. Tỳ-kheo đáp rằng: “Vâng! Đúng như lời người đã nói.” Dầu Tỳ-kheo này nói quyết định có Phật tánh, mà vẫn không phạm tội.

Vị Tỳ-kheo chưa chứng nhưng tự người ta kính trọng khen ngợi sau này sẽ chứng. Tự mình cải chính là chưa chứng nhưng họ vẫn tin như vậy, mình không phạm tội. Tại sao? Vì mình không có lòng muốn khoe khoang, họ cứ tin thì biết làm sao!

Nhiều người tin mình có Phật tánh và quả quyết tôi có Phật tánh, tôi sẽ thành Phật. Người khác nghe như vậy nói rằng người ấy đại vọng ngữ, chưa thành Phật mà dám bảo mình sẽ thành Phật. Nhưng thật sự người này không mắc tội đại vọng ngữ. Bởi vì tin rằng mình có Phật tánh, tức đã nhận đúng lẽ thật của tinh thần Đại thừa. Mình có Phật tánh, chịu khó lau chùi cho sạch phiền não thì Phật tánh sẽ hiển lộ toàn vẹn, là thành Phật.

Lại có Tỳ-kheo lúc xuất gia tự nghĩ rằng: Nay ta quyết định thành bậc Vô thượng Chánh giác. 

Tỳ-kheo này dầu chưa được thành Phật, nhưng đã được vô lượng vô biên phước đức. Vì xưa kia, trong tám mươi ức kiếp, ta giữ giới trong sạch, ít muốn biết đủ, thành tựu oai nghi, khéo tu vô lượng pháp tạng của chư Phật, thuở ấy ta cũng quyết định rằng mình có Phật tánh, nhờ đó nên nay ta được thành Phật, có đức đại từ bi.

Những điều trên đây là lời Phật nói, nếu ai thuận theo thời là bậc Bồ-tát. Còn ai không chịu thuận theo thời là quyến thuộc của ma.

Nếu có người mới xuất gia mà tự nghĩ rằng nay ta quyết định sẽ thành bậc Vô thượng Chánh giác, Tỳ-kheo này dầu chưa được thành Phật, nhưng đã được vô lượng vô biên phước đức. Không phải nói như vậy là ngã mạn, là đại vọng ngữ; nhưng chính quyết định đó mà được vô lượng vô biên công đức. Phật nói: Vì xưa kia trong tám mươi ức kiếp ta giữ giới trong sạch, ít muốn biết đủ, thành tựu oai nghi, khéo tu vô lượng pháp tạng của chư Phật, thuở ấy ta quyết định rằng mình có Phật tánh, nhờ đó nên nay ta được thành Phật, có đức đại từ bi. Nhờ quyết định mình có Phật tánh cho nên rồi sẽ thành Phật. Đó là chuyện của đức Phật đã làm, chúng ta hiện giờ cũng phải mạnh mẽ mà làm như vậy. Thế nên những ai nhận, hiểu và làm được như vậy thì gọi là bậc Bồ-tát, là đệ tử của Phật. Còn ngược lại đó là quyến thuộc của ma.

Ma lại sẽ bảo rằng: Không có bốn tội Trọng, mười ba tội Tăng tàn, hai tội Bất định, ba mươi tội Xả đọa, chín mươi tội Đọa, bốn pháp phải Sám hối, các pháp phải Học, bảy điều Diệt tránh, nhẫn đến không có tội thô, tội nghịch, Nhất-xiển-đề. Nếu có Tỳ-kheo phạm các tội đã kể trên đây mà phải đọa địa ngục thời hàng ngoại đạo lẽ ra đều được sanh lên cõi trời cả, vì ngoại đạo không thọ giới, tất không có giới gì mà phạm. Đó là Như Lai muốn khủng bố người nên nói các điều giới ấy. Dầu Như Lai có nói phạm tội Đột-kiết-la, phải bị đọa vào địa ngục mãi đến tám trăm muôn năm của cõi trời Đao-lợi mới mãn tội, đó cũng là việc thị hiện để khủng bố người. Rằng Ba-la-di cho đến Đột-kiết-la, tội nặng tội nhẹ không sai. Đây là các nhà luật sư vọng nói là lời của Phật chế, kỳ thật không phải Phật chế như vậy. Tất cả những lời trên đây là điển từ của ma cả.

Ma sẽ nói: Tất cả giới luật của Bồ-tát, Thanh văn không có thật, do Phật khủng bố đệ tử mà đặt ra. Vì vậy nói nếu có vị Tỳ-kheo phạm giới phải đọa địa ngục thì hàng ngoại đạo sanh thiên đường hết, vì ngoại đạo không thọ giới nên không phạm. Bây giờ có một số người cũng lý luận tương tự như vậy: Tôi không dám quy y thọ giới, thọ giới rồi sau phạm thì sẽ mắc tội, không thọ thì không tội, ở ngoài không sướng hơn sao? Họ nghĩ Phật chế giới là để cột mình, ai mà vô đó thì bị cột, ở ngoài thì được tự do. Họ nghĩ có tội là do trái lời Phật.

Ví dụ người cha lương thiện đạo đức răn con không nên ăn trộm, nếu con ăn trộm cha sẽ từ con. 

Người con có bạn rủ đi ăn trộm, nó nói cha tao cấm không cho ăn trộm. Người bạn nói: Mày sao lại bị cha ràng buộc? Tao thì tự do ăn trộm. Nó ăn trộm và tưởng mình không phạm tội vì đâu có chịu sự ràng buộc của người cha. Nhưng dù không phạm điều cấm của người cha, nó vẫn bị bắt ở tù. Lời cấm kia là vì thương không muốn con mình ở tù. Dù có cấm hay không, ăn trộm thì phải ở tù.

Những người nông nổi cho rằng mình không thọ giới của Phật thì không tội, người nào thọ rồi phạm mới tội. Đó là những hiểu biết sai lầm. Trong giới Phật dạy mình không trộm cướp, không giết người. Bây giờ mình giết người, trộm cắp thì dù không thọ giới Phật cũng sẽ bị người ta giết lại hay bị bắt bỏ tù.

Ngoại đạo cũng nói các ông là Tỳ-kheo thọ mấy trăm giới nên khi phạm thì sẽ xuống địa ngục, còn ngoại đạo chúng tôi không thọ giới nào nên suốt đời không phạm. Phật nói phạm giới thì xuống địa ngục, còn không phạm sẽ sanh lên cõi trời, vì vậy chúng tôi không thọ thì không phạm nên sẽ được lên cõi trời, còn các ông sa xuống địa ngục hết vì không phạm giới nặng cũng phạm giới nhẹ. Lối lý luận này là của ma.

Có chỗ nói rằng: Ở trong các điều giới, nếu phạm một giới nhỏ, sẽ bị khổ báo trong thời gian rất lâu. Nhận thức như vậy sẽ giữ gìn tự thân như rùa giấu kín sáu chi. 

Nếu có luật sư nào nói rằng: “Phàm chỗ phạm giới đều không tội báo.” Không nên gần gũi luật sư này. Như Phật đã từng dạy:

Nếu nói quá một pháp Đây gọi là vọng ngữ, Chẳng nhận thấy đời sau Không ác nào chẳng tạo.

Do đây, chẳng được thân cận người phủ nhận nhân quả. Trong chánh pháp của Phật trong sạch như vậy, huống lại có phạm tội Du-lan-giá hoặc phạm Tăng tàn và Ba-la-di mà chẳng phải là tội ư! Thế nên rất phải tự giữ gìn những giới pháp như vậy. Nếu không giữ gìn, thời lấy pháp gì mà gọi là cấm giới?

Trong các kinh, Như Lai cũng nói nếu có phạm bốn tội trọng Ba-la-di cho đến phạm tội nhỏ Đột-kiết-la, thời phải theo luật mà trị tội. Nếu chúng sanh chẳng hộ trì cấm giới, làm sao thấy được Phật tánh.

Nếu có người nói: Ở trong các điều giới, nếu phạm một giới nhỏ vẫn bị khổ báo trong thời gian rất lâu. Những vị đó là những luật sư dạy dỗ mình, nên hãy cố gắng tin hiểu, nên gần gũi. Như Phật đã từng dạy:

Nếu nói quá một pháp Đây gọi là vọng ngữ, Chẳng nhận thấy đời sau Không ác nào chẳng tạo.

Nếu nói quá một pháp, tức là mình vượt qua ngoài phạm vi thật của nó thì sẽ mắc tội đại vọng ngữ. Chẳng nhận thấy đời sau, nghĩa là không tin có đời sau, nghĩ rằng chết là hết thì cứ mặc tình làm điều ác. Do đây, chẳng được thân cận người phủ nhận nhân quả. Trong chánh pháp của Phật trong sạch như vậy, huống lại có phạm tội Du-lan-giá hoặc phạm Tăng tàn và Ba-la-di mà chẳng phải là tội ư! Tất cả phạm giới đều là tội. Nên trong các kinh Phật dạy dù phạm tội lớn hay nhỏ thì cũng theo đó mà trừng trị.

Dầu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do nơi trì giới rồi sau mới được thấy. Do thấy Phật tánh mà được thành Vô thượng Chánh giác.

Trong chín bộ kinh, không có kinh Đại thừa phương đẳng, cho nên không nói có Phật tánh. Dầu không nói, nhưng phải biết là thật có Phật tánh.

Người nào nói những lời như đây, thời thật là đệ tử của Như Lai.”

Ở đây Phật nói rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do trì giới, về sau mới thấy Phật tánh, mới thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Mỗi người chúng ta ai cũng có Phật tánh nhưng Phật tánh không hiển lộ vì vô minh che đậy. Trì giới tu hành là phương tiện dẹp phá vô minh. Nếu vô minh hết thì Phật tánh hiển bày đầy đủ, gọi là giác ngộ thành Phật. Phật nói rõ Trong chín bộ kinh, không có kinh Đại thừa phương đẳng cho nên không nói về Phật tánh, dầu không nói nhưng phải biết thật có Phật tánh. Trong các bộ kinh Tiểu thừa không nói về Phật tánh, tuy vậy chúng ta phải nhận chắc rằng mọi người đều có Phật tánh. Người nào nói những lời như đây thì thật là đệ tử của Như Lai.

Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Như trên đã nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Trong chín bộ kinh chưa từng nghe thấy điều này. Như nói là có thời sao lại không phạm tội Ba-la-di?”

Phật dạy: “Này Ca-diếp! Như lời ông nói đó, thật chẳng phạm tội Ba-la-di. Như có người nói trong biển cả chỉ có bảy thứ báu, không có tám thứ. Người này không có lỗi. Cũng vậy, nếu nói trong chín bộ kinh, không có Phật tánh, vẫn là vô tội. Vì Như Lai ở trong biển lớn đại trí Đại thừa nói có Phật tánh. Hàng Nhị thừa chẳng thấy biết mà nói là không, nên chẳng mắc tội. Cảnh giới này là chỗ thấy biết của Phật, chẳng phải hàng Thanh văn và Duyên giác biết đến.

Bồ-tát Ca-diếp nghi trong chín bộ kinh Tiểu thừa không có nói Phật tánh mà Phật xác nhận chúng sanh có Phật tánh, đã có Phật tánh mà kinh kia không nói vậy là nói dối, là phạm tội Ba-la-di. Phật nói tuy trong kinh Tiểu thừa không nói mà không phạm tội Ba-la-di vì sao? Ví như trong biển có tám thứ báu nhưng người ta nói có bảy thứ; còn sót một thứ, do người ta chưa thấy nên chưa nói, vì thế không phạm tội nói dối.

Này Ca-diếp! Người không được nghe tạng pháp thậm thâm bí mật của Như Lai thời làm thế nào biết rằng có Phật tánh. Những gì gọi là tạng pháp thậm thâm bí mật của Như Lai? Chính là kinh điển Đại thừa phương đẳng vậy.

Này Ca-diếp! Có các nhà ngoại đạo, hoặc nói ngã là thường còn, hoặc nói ngã là đoạn diệt.

Như Lai không nói như vậy, mà cũng nói là có ngã và cũng nói là không ngã. Đây gọi là trung đạo.

Ngoại đạo chấp ngã là thường còn thì thành chấp thường, chấp ngã đoạn diệt thì thành chấp đoạn. Chấp ngã thường còn là ngã đời trước, đời này và vô lượng đời sau không đổi thay, không lên xuống. Có ngã như vậy nên tu cũng là thừa, làm ác cũng không sao. Đó là thường kiến. Có người chấp ngã này khi chết rồi là hết không còn gì nữa. Vì vậy làm lành không có ai hưởng, làm ác cũng không ai chịu tội. Như vậy cũng do chấp ngã thành đoạn diệt, gọi là đoạn kiến.

Phật vẫn nói có ngã, vẫn nói không ngã. Nói không ngã là phá chấp ngã thường còn ở trên. Nói có ngã là để phá chấp vô ngã sau này, để chỉ cho Phật tánh bất sanh bất diệt, không phải ngã họ chấp. Vì vậy nói có ngã không ngã của Phật thuộc về trung đạo. Nói không ngã cũng để mình dẹp trừ phiền não, để bao nhiêu tham sân si theo đó mà sạch. Khi nói có ngã là nói có Phật tánh, hết vô minh mới hiển lộ, cũng để mình tiến tu. Cho nên hai bên khác nhau. Ngoại đạo nói ngã thường còn, nói ngã đoạn diệt để không sợ tội phước. Đây nói không ngã là để dẹp phiền não, nói có ngã cũng để dẹp vô minh. Như vậy nói có nói không của Phật là lối nói trung đạo, không phải nói theo một bên của phàm phu.

Nếu có người nói: Đức Phật nói trung đạo: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì phiền não che ngăn nên không thấy không biết. Vì thế nên phải siêng năng tu tập để dứt trừ phiền não.

Ai nói được những lời trên đây thời chẳng phạm bốn tội trọng. Nếu không nói được như đây thời gọi là phạm tội Ba-la-di.

Người nào nói được như vậy là không phạm tội, nói đúng sự thật, còn không nói được như vậy là trái sự thật, là nói dối.

Nếu có người nói: “Tôi đã thành Phật, tôi có Phật tánh.” Người nói lời này phạm tội Ba-la-di. Vì dầu có Phật tánh, nhưng chưa tu tập các pháp lành nên chưa được thấy, vì chưa thấy Phật tánh nên chẳng được thành Phật.

Này Ca-diếp! Do những nghĩa này nên Phật pháp rất sâu chẳng thể nghĩ bàn.”

Nếu có người nói Tôi đã thành Phật, vì tôi có Phật tánh là phạm tội Ba-la-di. Tuy mình có Phật tánh nhưng chưa dẹp hết phiền não làm sao thành Phật. Khi nói thành Phật vì có Phật tánh, mà đã thành Phật thì tu làm chi nữa, nên đó là nói dối. Mình có Phật tánh nhưng do phiền não che đậy, nay ráng dẹp phiền não để Phật tánh hiển lộ, thì đó là nói thật. Cũng thừa nhận Phật tánh nhưng một bên phạm tội, còn một bên không phạm tội. Nên Phật nói, do những nghĩa này nên Phật pháp rất sâu chẳng thể nghĩ bàn. Cũng một câu nói đó mà sửa một chút là có tội, nói đúng một chút là có phước, nói khéo một chút như Phật nói, sai một chút trở thành ma nói.

Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Có Quốc vương hỏi thế nào là Tỳ-kheo mắc phải tội đại vọng ngữ?”

Phật dạy: “Này Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo vì cầu lợi, vì việc uống ăn, rồi làm những cách dua nịnh gian ngụy khi trá, thế nào cho người đời tưởng thật ta là bậc khất sĩ, để ta được danh to lợi lớn. Tỳ-kheo này nhiều ngu si, tự biết rằng chính mình chưa chứng đặng bốn quả thánh, trong lòng luôn suy nghĩ phải làm thế nào cho người đời, các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đều nói rằng ta đã chứng quả, là bậc phước đức lớn, thật là thánh nhân, Tỳ-kheo suy nghĩ cầu lợi chẳng phải cầu pháp, ta phải đi đứng đoan nghiêm, chấp trì y bát, giữ đúng oai nghi, ở riêng nơi yên vắng như A-la-hán. Làm cho người đời đều bảo rằng: Tỳ-kheo như thế là bậc lành bậc tốt nhất, ngài tinh cần khổ hạnh tu pháp tịch diệt. Như thế ta sẽ có đệ tử đông, cũng sẽ được người cúng dường trọng hậu, khiến hàng phụ nữ cung kính mến tưởng.

Nếu có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào làm những sự như vậy thì mắc phải tội đại vọng ngữ. 

Bồ-tát Ca-diếp muốn Phật giản trạch giới đại vọng ngữ. Quốc vương hỏi thế nào Tỳ-kheo mắc phải tội đại vọng ngữ. Phật giải thích, có những Tỳ-kheo tăng Tỳ-kheo-ni thích ra vẻ là người đức hạnh để mong cầu người ta cúng dường nhiều, mong cầu được khen ngợi, mong cầu đệ tử cho đông..., làm ra vẻ thanh tịnh, giữ giới luật để mong cầu được kính tín cúng dường, đệ tử nhiều... thì đều phạm tội đại vọng ngữ, vì không tu hành chân thành lợi pháp, mà chỉ vì lợi dưỡng cho nên phạm tội đại vọng ngữ.

Lại như có Tỳ-kheo vì muốn kiến lập chánh pháp vô thượng nên ở nơi yên vắng, tự chẳng phải A-la-hán mà muốn làm cho mọi người tin tưởng gọi là A-la-hán, là Tỳ-kheo tốt, Tỳ-kheo lành, Tỳ-kheo tịch tịnh, được nhiều người xuất gia theo làm quyến thuộc. Nhân đó khuyên dạy các Tỳ-kheo và Ưu-bà-tắc phá giới, đều khiến trì giới. Do đây mà chánh pháp được kiến lập, làm rạng rỡ pháp vô thượng của Như Lai, khai hiển Phương đẳng Đại thừa, độ thoát vô lượng chúng sanh, khéo hiểu những nghĩa khinh trọng trong kinh luật mà Như Lai đã nói. Tỳ-kheo này lại nói: Nay ta cũng có Phật tánh. Có kinh điển gọi là tạng bí mật của Như Lai. Nơi trong kinh này, ta sẽ quyết định đặng thành Phật đạo, có thể dứt sạch vô lượng ức phiền não kiết sử. Vì vô lượng Ưu-bà-tắc mà nói rằng: Các ông đều có Phật tánh, ta cùng các ông đều sẽ an trụ nơi cấp bậc của Như Lai mà thành Vô thượng Chánh giác, dứt sạch vô lượng phiền não kiết sử. Tỳ-kheo nói những lời trên đây không gọi là người phạm đại vọng ngữ mà gọi là bậc Bồ-tát.

Lại như có Tỳ-kheo vì muốn kiến lập chánh pháp vô thượng, tức là muốn truyền bá chánh pháp Đại thừa, nên ở chỗ yên vắng, tự chẳng phải A-la-hán mà muốn làm cho mọi người tin tưởng gọi là A-la-hán, là Tỳ-kheo tốt. Như vậy hai bên hành động cũng giống nhau, cũng chưa đạt đạo, nhưng muốn người ta tin mình được đạo. Tin mình được đạo để làm gì? Để truyền bá chánh pháp, dựng lập chánh pháp. Tỳ-kheo này cũng ở chỗ tịch tịnh, được nhiều người xuất gia theo làm quyến thuộc. Nhân đó khuyên dạy các Tỳ-kheo và Ưu-bà-tắc phá giới, đều khiến họ trì giới. Do đây chánh pháp được kiến lập, làm rạng rỡ pháp vô thượng của Như Lai. Những Tỳ-kheo này nói ra Phật tánh, giảng dạy kinh điển Đại thừa..., họ không phạm tội Ba-la-di tức là phạm tội vọng ngữ, trái lại gọi họ là bậc Bồ-tát.

Như vậy cũng ở chỗ vắng vẻ, cũng muốn người ta tin tưởng vào mình nhưng một bên là đại vọng ngữ, một bên là Bồ-tát. Một bên tất cả việc làm đều nhắm vào lợi dưỡng danh vọng đệ tử đông là tà, còn một bên chỉ nhắm vào điểm truyền bá chánh pháp, dựng lập chánh pháp, gây dựng cho những người phá oai nghi phạm giới chừa bỏ những tật xấu, thì là Bồ-tát. Phật đã phân rõ tà chánh để chúng ta không lầm lẫn.

Như nói: Người phạm tội Đột-kiết-la phải bị đọa trong địa ngục chịu tội đến tám trăm muôn năm tính theo năm tháng ở cõi trời Đao-lợi, huống là cố phạm tội Du-lan-giá.

Trong Đại thừa đây, nếu có Tỳ-kheo phạm tội Du-lan-giá thời không nên thân cận.

Những gì gọi là tội Du-lan-giá trong kinh Đại thừa?

Nếu có đàn tín tạo lập chùa Phật, đem các tràng hoa dùng cúng dường Phật. Có Tỳ-kheo thấy chỉ trong xâu hoa, không hỏi xin mà lấy thời phạm tội Du-lan-giá. Hoặc biết hay chẳng biết cũng đều phạm như vậy. Nếu vì tâm tham mà phá hoại tháp Phật thời phạm tội Du-lan-giá. Không nên thân cận những người như vậy.

Lấy mà không xin, chỉ mỗi sợi chỉ trong vòng hoa thôi cũng phạm tội. Vì sao? Người ta vì muốn trang nghiêm Phật mà mình lại muốn đem về riêng cho phần mình là phạm tội, ở đây nói có tâm tham mà phá hoại tháp Phật.

Nếu đàn tín thấy tháp Phật hư, vì muốn tu bổ cúng dường xá-lợi, nơi trong tháp này hoặc được châu báu bèn đem gửi Tỳ-kheo. Tỳ-kheo lãnh rồi bèn tự ý thọ dụng. Tỳ-kheo này gọi là hạng bất tịnh, sanh nhiều sự đấu tranh. Các Ưu-bà-tắc tốt không nên gần gũi cúng dường. Tỳ-kheo như vậy gọi là vô căn, gọi là hai căn, gọi là bất định căn.

Người bất định căn lúc tham muốn làm gái, thân liền biến làm gái, lúc tham muốn làm trai thân liền biến làm trai.

Tỳ-kheo như vậy gọi là ác căn, không gọi là nam, không gọi là nữ, không gọi là tại gia, không gọi là xuất gia. Với Tỳ-kheo này, không nên thân cận cung kính cúng dường.

Có người nghe nói mình chuẩn bị xây tháp bèn cúng tiền, nhưng mình lại không chịu xây tháp mà làm vào việc khác thì phạm tội rất nặng.

Trong Phật pháp, về pháp tắc của hàng Sa-môn, phải sanh lòng từ bi lợi ích chúng sanh, cho đến loài trùn kiến cũng phải ban sự vô úy, đây là pháp của Sa-môn. Xa lìa uống rượu cho đến ngửi mùi đây là pháp của Sa-môn. Chẳng được vọng ngữ cho đến trong giấc mộng cũng không nghĩ đến sự vọng ngữ, đây là pháp của Sa-môn. Chẳng sanh lòng dục cho đến trong giấc mộng cũng không nghĩ đến lòng dục, đây là pháp của Sa-môn.”

Phật răn chúng ta trong hành động hằng ngày, cho đến trong chiêm bao cũng phải ráng giữ.

Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo ngủ chiêm bao hành dâm dục, có phạm giới chăng?”

Phật dạy: “Không phạm giới. Ở nơi sự dâm dục, phải sanh ý nghĩ là hôi nhơ, cho đến không có một niệm tưởng là sạch tốt. Tránh sự nghĩ tưởng ái nhiễm hàng phụ nữ. Nếu chiêm bao hành dâm, lúc thức dậy phải hổ thẹn ăn năn. Nếu móng lòng dâm dục phải kíp trừ bỏ. Tỳ-kheo đi khất thực, lúc nhận cúng dường, phải có ý tưởng như ăn thịt con đẻ trong thời kỳ đói kém. Pháp môn trên đây là kinh luật của Phật nói. Người thuận theo đây thời là bậc Bồ-tát.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật, nếu có Tỳ-kheo trong giấc chiêm bao thấy mộng xấu thì có phạm giới chăng?

Phật dạy, dù cho trong giấc mộng có hiện ra những điều không tốt mà biết dứt tâm ái nhiễm, biết hối hận ăn năn hổ thẹn thì không phạm tội.

Nếu Tỳ-kheo đi khất thực, lúc nhận cúng dường phải có ý tưởng như ăn thịt con đẻ trong thời kỳ đói kém, đừng cầu thức ăn ngon mà chỉ là để trừ đói khổ. Người thuận theo như vậy gọi là Bồ-tát.

Nếu có kẻ nào nói rằng đức Phật cho phép Tỳ-kheo luôn đứng co một chân, luôn nín lặng không nói, hoặc nhảy vào lửa, nhảy xuống vực, từ trên gộp đá cao tự nhảy xuống chẳng tránh sự hiểm nạn, hoặc uống độc dược, hoặc tuyệt thực, nằm trên tro đất, tự trói tay chân, hoặc giết hại chúng sanh, bàng môn chú thuật, con nhà hàng thịt, không căn, hai căn, bất định căn, giác quan không đủ. Như Lai đều cho những người trên đây xuất gia hành đạo. Phải biết lời này là của ma nói.

Phật không cho phép Tỳ-kheo hành những khổ hạnh trên đây, cũng không cho phép người sống tà mạng, hoặc thiếu các căn... xuất gia hành đạo. Ai nói ngược lại là ma nói.

Nếu có chỗ nào nói rằng cho mặc ma-ha- lăng-già (là thứ lụa tốt), đều cho chứa cất tất cả hột giống, loài cỏ cây đều có thọ mạng, Như Lai nói lời này rồi bèn vào Niết-bàn. Phải biết trên đây là lời của ma nói.

Trước kia Như Lai cho ăn năm thứ sữa bò cùng với dầu, mật, cho mặc y kiều-xa-gia, dép da v.v... trừ những vật của ngoại đạo.

Như Lai cũng không cho luôn đứng co một chân, mà bảo theo đúng chánh pháp tùy ý đi đứng nằm ngồi. Như Lai cũng chẳng cho tuyệt thực hay uống độc dược, hoặc năm thứ nóng đốt thân, trói cột tay chân, giết hại chúng sanh, luyện bàng môn chú thuật, dùng ngà voi châu ngọc làm dép da. Chẳng cho mặc ma-ha-lăng-già, chứa cất các hột giống. Chẳng nói cỏ cây có thọ mạng. Nếu ai nói Như Lai cho phép và nói như trên đây, phải biết kẻ ấy là quyến thuộc của ngoại đạo, không phải là đệ tử của Phật.

Như Lai chỉ cho ăn năm thứ sữa bò và dầu, mật, cho mang dép da, mặc y kiều-xa-gia. Như Lai nói tứ đại không có thọ mạng. Kinh luật nào nói như vậy chính là lời của Phật. Thuận theo lời Phật là đệ tử của Phật. Còn không thuận theo lời Phật thời là quyến thuộc của ma. Nếu có người nào tùy thuận kinh luật của Phật, phải biết đó là bậc Bồ-tát.

Này Ca-diếp! Thế nào là lời của ma nói, thế nào là lời của Phật nói. Nay Như Lai đã phân biệt nhiều cho ông rồi.”

Ca-diếp Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nay con mới biết rõ chỗ sai biệt của lời Phật nói cùng lời ma nói, nhân đây mà con được ngộ nhập nghĩa sâu của Phật pháp.”

Phật khen Ca-diếp Bồ-tát: “Này Ca-diếp! Ông có thể hiểu rành rẽ như vậy, đáng gọi là người thông sáng.”

Phật phân biệt cho ngài Ca-diếp thấy ma nói thế nào, Phật nói thế nào. Ngài Ca-diếp nghe Phật nói đến đây cũng nhận ra rõ ràng lời Phật lời ma, nhân đây mà ngộ nhập nghĩa thậm thâm của Phật pháp.

Phật khen Ca-diếp Bồ-tát đã hiểu rành rẽ như vậy, đáng gọi là người thông sáng.

 

 
   

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 14676
  • Online: 17