Kinh Thủ Lăng Nghiêm giảng ký: MỤC 20- KHAI THỊ VỊ TRÍ TU CHỨNG TRƯỚC VÀ SAU

10/09/2018 | Lượt xem: 250

Dịch giả: HT.Thích Phước Hảo

Tác giả: TT.Thích Thông Phương

CHÁNH VĂN:

Ông A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Bọn chúng con ngu độn chỉ ưa thích nghe nhiều, đối với các tâm hữu lậu chưa cầu ra khỏi, nhờ lời từ bi chỉ dạy của Phật mới được lối huân tu Chân chánh, thân tâm thư thái, được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn! Người tu chứng Tam-muội của Phật như thế, khi chưa đến Niết-bàn, thế nào gọi là Càn Tuệ địa, trong bốn mươi bốn tâm đến thứ bậc nào mới được danh mục tu hành, đến phương sở nào mới gọi là nhập địa, thế nào gọi là Bồ-tát Đẳng Giác?”. Thưa thỉnh lời ấy rồi năm vóc gieo xuống đất, trong đại chúng nhất tâm chăm chú trông đợi từ âm của Phật.

GIẢNG GIẢI:

Ngài A-nan nghĩ cho người tu hành đời mạt pháp, lo học hiểu mà thiếu thực tu, nên lấy cái gương của bản thân để nhắc nhở: “Chỉ lo nghe nhiều, lo học hiểu mà không có thực tu thì không thắng được phiền não, không hết hữu lậu”. Ngài lại thưa hỏi về thứ lớp tu chứng, tức là từ Càn Tuệ địa là nhân ban đầu cho đến Đẳng Giác, Diệu Giác là chỗ tột, thứ lớp danh mục như thế nào đều thỉnh Phật chỉ dạy.

 

CHÁNH VĂN:

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ông A-nan rằng: “Lành thay! Lành thay! Các ông lại biết vì cả đại chúng và tất cả chúng sanh tu Tam-ma-địa cầu pháp Đại thừa trong đời mạt pháp, xin Tôi xa chỉ cho con đường tu hành vô thượng Chân chánh, từ phàm phu đến Niết-bàn. Nay ông hãy nghe kỹ, Tôi sẽ vì ông nói”.

Ông A-nan và đại chúng chắp tay sạch lòng im lặng nhận nghe lời Phật dạy.

GIẢNG GIẢI:

Phật khen ngợi chỗ thưa hỏi của Ngài A-nan vì lợi ích cho người tu đạo Bồ-đề sau này, và hứa chỉ dạy. Chỗ quan trọng ở đây là Ngài A-nan và đại chúng chắp tay sạch lòng im lặng nghe lời Phật dạy. Phải sạch lòng thanh tịnh nghe chứ không phải nghe một cách hời hợt. Đây Phật mới dạy:

 

CHÁNH VĂN:

Phật bảo: “A-nan phải biết, diệu tánh vốn viên minh rời các danh tướng, xưa nay không có thế giới và chúng sanh. Nhân vọng mà có sanh, nhân sanh mà có diệt, sanh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chân, ấy gọi là hai hiệu Chuyển y Vô thượng Bồ-đề và Niết-bàn của Như Lai.

GIẢNG GIẢI:

Trước khi chỉ ra danh tướng thứ lớp tu hành như lời Ngài A-nan thưa thỉnh, Đức Phật chỉ thẳng cội nguồn chân thật xưa nay. Chỗ này cần lưu ý! Phật dạy rằng: “Diệu tánh vốn là viên minh rời các danh tướng, xưa nay không có thế giới và chúng sanh thì làm gì có thứ lớp!”.

Chúng ta phải thấy được ý sâu của Phật. Diệu tánh vốn là viên minh, là tròn sáng sẵn vậy, không có thêm bớt gì trong đó thì đâu có thứ lớp. Trong kinh Pháp Hoa gọi là “chỉ một việc này thật, có hai thì chẳng phải chân”, vậy còn thứ lớp gì nữa. Vì thế, trước khi chúng ta học đến phần thứ lớp đó thì phải hiểu được, thấu được chỗ chân thật này, mới không mắc kẹt trên thứ lớp. Phật dạy rất kỹ giúp chúng ta không mắc kẹt, ngừa niệm chứng đắc về sau.

Nói có thứ lớp thế này thế kia, quả này quả nọ, Phật sợ chúng ta lại mắc kẹt trên những chứng đắc đó, nên dạy cho thấu được chỗ này thì những cái kia chỉ là phương tiện, không mắc kẹt trên đó. Bởi diệu tánh vốn không hai nhưng do bất giác vọng động mới có niệm khởi, đây nói là nhân vọng mà có sanh, nhân sanh có diệt. Như vậy, cái sanh diệt là vọng, diệt cái vọng gọi là chân, đó là hai pháp Chuyển y Vô thượng Bồ-đề và Niết-bàn của Như Lai.

Do bất giác nên vọng động mà có niệm khởi, đó là đi theo chiều luân hồi, có khởi có diệt đều là vọng, rồi ngay cái vọng đó ngộ trở lại tức là chân. Bởi vì niệm khởi đó là do cái bất giác vọng động, là vọng sanh, nên khi diệt cũng là vọng diệt. Do chúng sanh mê nên thấy thật có khởi có diệt, mới theo đó mà luân hồi. Nếu ngay đó ngộ trở lại suốt cái vọng, không theo sanh diệt, tức là chân. Và nếu ngay nơi vọng, ngộ thấy chân rồi thì nó đâu phải có thêm thể thứ hai, ngoài cái vọng mà riêng có “thể chân”! Mà đây là ngay vọng tức là chân, thể vẫn là một, không có cái vọng riêng, đó gọi là chuyển mê thành giác, chuyển sanh tử thành Niết-bàn.

Và chuyển như vậy là chuyển cái gì? Đó là chuyển cái tên thôi, chuyển tên mê thành tên giác mà không phải chuyển cái thể, vì thể đâu có hai. Cũng như chuyển sanh tử thành Niết-bàn đó cũng là chuyển cái tên chứ không phải là chuyển cái thể. Cái thể là ngay trong sanh tử tức Niết-bàn rồi. Thành ra nói chuyển mà không có gì để chuyển, không cho thấy có sở đắc, không thấy có được cái gì khác. Như vậy, do có vọng nên mới lập có chân, cũng như có mê nên mới chuyển mê thành giác, có phương tiện để trở về. Và những thứ lớp trở về đó cũng là phương tiện, không có thật thể. Thế nên, chúng ta không vì đó mà mắc kẹt.

Trong quyển Truyền Tâm Pháp Yếu, Ngài Hoàng Bá có khai thị rằng: “Chứng tâm này thì có nhanh, có chậm, có người nghe pháp một niệm liền được vô tâm, có người đến Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng mới được vô tâm. Dài hay ngắn, được vô tâm mới là trụ. Lại không có thể tu, không có thể chứng, thật không có sở đắc, chân thật không dối. Người chỉ một niệm mà được cùng với người đến Thập Địa mới được, công dụng tương đương, không có sâu cạn, chỉ là nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy thôi”.

Ý nói là tuy có Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Thập Địa, cũng là phương tiện cho người mê trên đường trở về, nhưng gốc chân thật thì vẫn không hai. Ngài Hoàng Bá nói rõ: “Người ngay một niệm được cùng với người đến Thập Địa mới được thì công dụng tương đương, chỉ do nhiều kiếp luống khổ nhọc vậy thôi’.

Do công phu nhiều kiếp, gạn lọc tình mê, cuối cùng cũng được cái sẵn có không hai như nhau, không phải có được thêm cái gì khác; không phải do mình tu hành nhọc nhằn nhiều kiếp được cái lớn hơn, còn người ngay một niệm nhận thì được cái nhỏ hơn, không phải vậy. Hiểu được chỗ này thì mới thấu được nghĩa chân thật.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Nay ông muốn tu chân Tam-ma-địa thẳng đến đại Niết-bàn của Như Lai, thì trước phải biết hai nhân điên đảo của thế giới và chúng sanh này. Nếu điên đảo không sanh đó là chân thật Tam-ma-địa của Như Lai.

GIẢNG GIẢI:

Phật dạy rất rõ, điên đảo không sanh tức là chân thật Tam-ma-địa của Như Lai. Vậy muốn tu Tam-ma-địa chân thật (chánh định) trước cần phải rõ hai thứ nhân điên đảo của thế giới và chúng sanh để không lầm. Không có điên đảo tức là vào chánh định chân thật rồi. Đó là con đường thẳng.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thế nào gọi là chúng sanh điên đảo? A-nan! do cái tâm bản tánh là minh, và tánh minh ấy viên mãn cùng khắp, nên nhân tánh minh phát ra hình như có tánh, vọng kiến nhận là có tánh sanh ra, từ chỗ rốt ráo là không, lại thành rốt ráo là có.

GIẢNG GIẢI:

Chúng ta học kỹ để quán cho thấu chỗ này sẽ phá tan tình mê điên đảo. Phật chỉ thế nào là chúng sanh điên đảo? Bản tánh của tâm vốn sẵn là sáng, là tròn khắp không thêm bớt. Nhưng do bất giác không giữ tự tánh, theo cái sáng đó mà phát ra thành vọng thấy như là có cái tánh sanh, ở trước gọi là đem cái minh mà minh trở lại nó. Bản tánh vốn là minh, là sáng rồi nhưng vì bất giác tưởng đâu nó không sáng, nên mới theo cái sáng đó mà soi sáng trở lại nó, biến nó thành cái được soi sáng. Nó vốn sẵn là gốc của sự soi sáng mà bây giờ biến nó thành cái ngọn, giống như là có cái tánh thứ hai. Mê là chỗ đó. Đó gọi là trên đầu lại thêm đầu.

Vì thế, vọng thấy thêm có tánh để nhận, để thấy, thành có năng kiến sở kiến. Tức là từ chỗ rốt ráo không mà thành ra rốt ráo có là chỗ đó; có này có kia, có năng có sở rồi mắc kẹt trong đó, dính trong đó, và cứ theo đó đi mãi quên mất cả đường về. Trong khi lẽ thật nó vốn là không, vì nó từ nơi rốt ráo không mà thành có, nghĩa là thành ra cái có đó cũng vốn là không, không có thật tánh, gọi là tánh không. Phật dạy điên đảo là chỗ đó.

Như vậy, tuy tùy duyên theo cái mê rồi sanh đủ thứ sai biệt, điên đảo nhưng vẫn không rời cái thể bất biến. Tức là diệu tánh không hai vẫn không mất, nếu ngay chỗ điên đảo đó mà ngộ trở lại thì tức chân, cái thể bất biến vẫn sẵn đó. Vì thể bất biến vẫn không mất cho nên chúng ta còn có hy vọng tu để giác ngộ trở lại thành Phật. Đó là một ưu điểm.

Ở đây, chúng ta cần quán cho thấu tột cái rốt ráo có này vốn là không, đó là chuyển vọng thành chân, là con đường chuyển trở về. Học hiểu rồi, chúng ta mới thấy rõ ý nghĩa Bát-nhã nói không, hay nói tánh không là thế nào.

Bởi vì thường người ta hiểu nghĩa “không” tức là đối với cái “có”, hay “không” là dẹp cái “có” mà thành cái “không”, hoại cái “có” mà thành cái “không”, còn cái không mà Bát-nhã nói đây là ngay cái có mà thấy tột nó là không, không cần phải phá hoại nó mới thành không. Ngay có mà thấy không thì nó có mà cũng đâu thành vấn đề gì, đâu có ngăn ngại gì. Nên khi tu hành giác ngộ rồi, thì ngay những cái có dẫy đầy nhưng vẫn sáng được tự tánh như thường; cái có không làm ngăn ngại gì hết, thành ra không sợ rơi vào không. Do người học không thấu thành mắc kẹt, rồi cho là Bát-nhã chấp không, thì đó là cái hiểu chưa tới.

 

CHÁNH VĂN:

Cái năng hữu và sở hữu này, chẳng phải năng nhân sở nhân và những tướng năng trụ, sở trụ rốt ráo không có cội gốc. Từ gốc vô trụ đó mà kiến lập ra thế giới và chúng sanh.

GIẢNG GIẢI:

Quán thấu tột cái rốt ráo có đó nó cũng từ cái vọng thấy mà thành, nhớ kỹ! Mà nó đã từ cái vọng thấy tức là nó cũng là vọng thôi. Cái hay thấy và cái được thấy, cả hai cũng đều là vọng hết. Cho nên đây nói cái năng hữu và sở hữu này nó cũng không thật; đến cái năng nhân, sở nhân và cái năng trụ, sở trụ cũng rốt ráo không có cội gốc, tức đều không thật luôn. Bởi cái vọng thấy kia đã là vọng, rồi lấy cái vọng làm nhân thì cái nhân đó cũng vọng luôn, nên gọi năng nhân, sở nhân cũng là vọng, rồi năng trụ, sở trụ cũng là vọng, cuối cùng thật không có cội gốc gì có thể nương, nên gọi là từ gốc vô trụ mà lập.

Vậy cả thế giới và chúng sanh đều từ cái gốc vô trụ được kiến lập, lập là lập ở trên cái gốc vô trụ, thì cuộc sống chúng ta sẽ ra sao? Cuộc sống bấp bênh. Vậy mà chưa mấy ai tỉnh ngộ! Chính chỗ này gọi là chỗ đặc ân để chúng ta tu hành. Nghĩa là chính từ cái gốc vô trụ, nên chúng ta tu hành có thể nhổ nó lên bất cứ lúc nào! Bởi nó là gốc vô trụ mà!

Tuy nó là điên đảo, tuy nó là tập khí sanh tử lâu dài thế này thế kia, nhưng cũng đều từ cái gốc vô trụ lập, chúng ta có thể nhổ lên bất cứ lúc nào cũng được. Ngay đây, nếu giác trở lại liền nhổ gốc nó lên thôi. Cổ đức thường thí dụ một căn nhà tối để cả mấy ngàn năm, nhưng một phen đem đèn sáng vào thì nhà tối liền sáng chứ đâu phải đợi mấy ngàn năm nữa nó mới sáng! Đây cũng vậy, tuy bị vô minh nhiều tập khí điên đảo che mờ hằng vô lượng kiếp, nhưng nếu ngay đây chúng ta ngộ trở lại tự tánh chân thật của mình xưa nay chưa từng sanh diệt là vượt qua vô lượng kiếp lầm mê. Đó là chỗ quan trọng để tất cả có đầy đủ niềm tin tiến lên.

 

CHÁNH VĂN:

Do mê không nhận được tánh viên minh sẵn có, nên sanh ra hư vọng, tánh hư vọng không có tự thể, không phải thật có chỗ nương. Toan muốn trở lại chân tánh, thì cái muốn chân đó đã chẳng phải tánh chân như chân thật. Cầu trở lại không đúng chân lý, thì liền thành ra những phi tướng; không phải sanh gọi rằng sanh, không phải trụ gọi rằng trụ, không phải tâm gọi rằng tâm, không phải pháp gọi rằng pháp.

GIẢNG GIẢI:

Đây nói về tướng chúng sanh điên đảo.

Phật dạy rõ, do tánh viên minh là tròn sáng sẵn có như vậy, mà mê nó cho nên sanh ra hư vọng; mà đã là hư vọng thì không tự thể có thể nương, tức không có tự ngã.

Đã khởi hư vọng, rồi muốn bỏ vọng trở về chân, thành ra cái muốn đó cũng chưa rời khỏi vọng. Nên ở đây nói rõ “toan muốn trở lại chân tánh, thì cái muốn chân đó đã chẳng phải là tánh chân như chân thật”. Bởi cái chân ở đâu mà trở về? Rõ là lẩn quẩn.

Chẳng lẽ ngoài cái vọng riêng có cái chân hay sao mà bỏ vọng để trở về chân? Chính cái thấy này đã ở trong vọng rồi, nên đây Phật chỉ thẳng: “Cầu trở lại đã không đúng với chân lý thì mới thành ra những cái phi tướng, sanh không phải sanh, trụ không không phải trụ, không phải tâm gọi rằng tâm, không phải pháp gọi rằng pháp”.

Ngay đó thấy được sự hư dối điên đảo, không phải sanh mà gọi là sanh, hay nói ngược lại, sanh là không thật sanh, tức ngay sanh liền thấu vô sanh. Đó là trở về chứ không phải trở về đâu hết. Ngay cái điên đảo tức là phi điên đảo, ngộ trở lại liền xong.

 Do đó, chân lý giác ngộ vẫn sờ sờ trước mắt chớ không đâu xa, không có cái chân nào riêng khác ở ngoài cái vọng. Phật chỉ rõ tướng chúng sanh điên đảo cũng từ trong cái chân do mê thành vọng vậy thôi.

 

CHÁNH VĂN:

Xoay vần phát sanh, sanh lực phát huy huân thành ra nghiệp báo. Đồng nghiệp thì cảm với nhau. Nhân đó lại cảm ra các nghiệp diệt nhau sanh nhau, do đây mà có chúng sanh điên đảo.

GIẢNG GIẢI:

Nếu theo cái điên đảo đó xoay vần và phát sanh, mà xoay vần phát sanh là cũng phát sanh trong cái điên đảo, rồi huân thành nghiệp báo. Mà đã có nghiệp báo thì sẽ có chiêu cảm với nhau, cột nhau ở trong vòng điên đảo. Thí dụ, chúng ta tạo nhân rồi có nghiệp báo thì nghiệp báo đó là đáp lại cái nhân, do đó mà sẽ kết hợp với nhau trong vòng điên đảo, cho nên ở đây nói “nhân đó mà cảm ra có các nghiệp diệt nhau, sanh nhau”. Nghĩa là vì ghét nhau cho nên cảm đến diệt nhau, rồi vì yêu cho nên cảm đến sanh nhau, thành ra cứ xoay vần điên đảo trong cái sanh diệt với nhau không dứt.

Như vậy, quán chiếu thấy rõ cuộc sống của chúng sanh không có ý nghĩa gì! Nên đâu có cái gì vui mà tham luyến hay mê mãi ở trong đó lại còn chưa chịu tỉnh! Chúng ta phải khéo thức tỉnh, đừng để tạo nghiệp rồi trả nghiệp, cứ vậy xoay vần lẩn quẩn với nhau chịu khổ toàn là ở trong cái hư vọng điên đảo. Trong khi đang sống trong cái chân tức là tánh viên minh sẵn có thì lại bỏ quên không ngó ngàng đến nó, đó là chỗ cần thức tỉnh trở lại. Đó là nói về chúng sanh điên đảo.

Đến tướng thế giới điên đảo.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thế nào gọi là điên đảo về thế giới? Do cái năng hữu sở hữu từng phần, từng phần, từng đoạn giả dối sanh ra, vì thế mà không gian được thành lập; do phi nhân làm nhân (tức là không phải cái nhân mà làm ra cái nhân) không có năng trụ sở trụ, nên dời đổi không dừng, vì thế mà thời gian được thành lập. Ba đời, bốn phương, hòa hợp xen lẫn với nhau, chúng sanh biến hóa thành mười hai loài.

GIẢNG GIẢI:

Ở trước, nói là từ cái vọng thấy mà có cái vọng “hay có” và cái vọng “được có”, tức là cái vọng năng hữu, sở hữu. Mà đã có cái được có sanh ra tức là có không gian thành lập. Nhưng thành lập trong cái không phải nhân mà thành nhân chứ không phải cái nhân chân thật, do đó có cái vọng nhân, vọng quả.

Nhân quả đã là vọng rồi thì chỗ trụ cũng là vọng luôn; mà chỗ trụ đã là vọng thì phải dời đổi không dừng, là thời gian được thành lập. Nhưng cũng thành lập từ trong chỗ hư vọng. Như vậy ba đời, bốn phương (ba đời thuộc về thời gian, bốn phương thuộc không gian) hai thứ này lại giao xen lẫn với nhau biến hóa thành ra có mười hai loài.

Ngài Hàm Thị giải thích thêm là cái vọng kiến của chúng sanh bị cái giới (không gian) làm hạn cuộc. Tức cái chân thật thì thấy rỗng suốt, trùm khắp nhưng cái vọng thấy này của chúng sanh lại bị không gian làm hạn cuộc, rồi vọng niệm luôn đổi dời, do đó chỗ cảm của các loài chia thành mười hai. Tức là thế giới chúng sanh cứ xoay vần, biến hóa, bị hạn cuộc trong không gian và thời gian này.

 

CHÁNH VĂN:

Vậy nên trong thế giới nhân động mà có tiếng, nhân tiếng mà có sắc, nhân sắc mà có hương, nhân hương mà có xúc, nhân xúc mà có vị, nhân vị mà biết pháp, sáu thứ vọng tưởng rối loạn tạo thành nghiệp tánh, nên phân chia thành mười hai, do đây mà xoay vần mãi mãi. Vậy nên, trong thế gian những thứ: thanh, hương, vị, xúc biến đổi cùng tột đến mười hai lần thì xoay trở lại.

GIẢNG GIẢI:

Ý nói là lẩn quẩn trong vòng mười hai: Tức sáu căn, sáu trần cứ nương nhau mà thành. Đây trước lấy cái tiếng, bởi vì cái tiếng từ tướng động mà khởi, chúng sanh lại do vọng động mới thành các thứ, cho nên lấy cái tiếng là tướng động làm trước.

Còn nói nhân động mà có tiếng, nhân tiếng mà có sắc, nhân sắc mà có hương, đó chỉ cho sáu trần nương nhau thành. Sáu trần xen dính với sáu căn trôi dần biến hóa không cùng, nên tột cùng đến mười hai lần thì trôi trở lại, lẩn quẩn trong vòng sáu căn, sáu trần đó. Đây nói thêm là sáu thứ vọng tưởng tức sáu thức phân biệt rối loạn nên tạo thành các thứ nghiệp, đó gọi là cái nhân có nghiệp tánh xoay vần. Nếu khéo thức tỉnh, ngay đó xoay trở lại mới là cái hay.

 

CHÁNH VĂN:

Dựa trên những tướng điên đảo xoay vần đó, nên trong thế giới có những loài sanh bằng trứng, loài sanh bằng thai, loài sanh nơi ẩm ướt, loài hóa sanh, loài có sắc, loài không sắc, loài có tưởng, loài không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng, hoặc chẳng phải không tưởng.

GIẢNG GIẢI:

Đây nói là nương trên những tướng điên đảo xoay vần đó thành ra trong thế giới có các loài sanh ra (mười hai loài sanh). Kể tổng quát là: Loài sanh bằng trứng, bằng thai, thấp sanh, hóa sanh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng. Đó là nói chung, kế đây mới giải thích ra từng loài.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Nhân trong thế giới “hư vọng” luân hồi, điên đảo về động, nên hòa hợp với khí thành ra có tám muôn bốn ngàn loạn tưởng bay lặn, vì vậy nên có yết-la-lam trôi lăn trong cõi nước, các loài cá, chim, rùa, rắn đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Yết-la-lam (tức mầm trứng) là vị trí phôi thai ban đầu. Loài noãn sanh thuộc về hư vọng luân hồi, nghiệp chính về noãn là tưởng hư vọng, thuộc cái điên đảo về động. Loài này thuộc về tưởng sanh, mà tưởng thì nhẹ, cho nên động, động thành ra những loài loạn tưởng bay lặn như là cá, chim, rùa, rắn v.v...

 

CHÁNH VĂN:

Còn loài thai sanh là nhân trong thế giới “tạp nhiễm” luân hồi, điên đảo về dục, nên hòa hợp với tư thành ra tám muôn bốn ngàn loạn tưởng đi ngang đi thẳng. Vì vậy, nên có yết-bồ-đàm xoay lăn trong cõi nước, các loài người, súc, rồng, tiên đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Yết-bồ-đàm (tức bào thai), thai sanh thuộc về “tạp nhiễm” luân hồi, điên đảo về dục sanh. Vì dục nên nó thuộc tình, do đó mà có tạp nhiễm. Loài này gồm những loài đi ngang đi thẳng, chúng ta là người, đi thẳng, còn những loài như rồng, súc thì đi ngang; cũng nằm trong điên đảo, hư vọng.

 

CHÁNH VĂN:

Loài thấp sanh là nhân trong thế giới “chấp trước” luân hồi, điên đảo về đến nên hòa hợp với noãn thành ra tám muôn bốn ngàn loạn tưởng nghiêng ngửa. Vì vậy, nên có tế thi thấp sanh trôi lăn trong cõi nước, các loài lúc nhúc quậy động đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Noãn tức là hơi ấm. Những loài thấp sanh, những loài lúc nhúc thuộc về “chấp trước” luân hồi, điên đảo về cái đến (hướng đến). Tức là nó thuộc về gá hợp sanh, do thấy chỗ ẩm ướt rồi đến gá hợp mà sanh.

 

CHÁNH VĂN:

Loài hóa sanh là nhân trong thế giới “biến dịch” luân hồi, điên đảo về giả, nên hòa hợp với xúc thành ra tám muôn bốn ngàn loạn tưởng mới cũ. Vì vậy, nên có tướng yết-nam hóa sanh trôi lăn trong cõi nước, các loài lột xác bay đi đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Yết-nam tức là thịt cứng. Hóa sanh thuộc về “biến dịch” luân hồi, nó biến hóa dời đổi, giống như loài lột xác chán cái cũ thích cái mới. Nó điên đảo giả hòa hợp với xúc tưởng. Do chán cái cũ thích cái mới nên nó hòa hợp biến đổi thành.

 

CHÁNH VĂN:

Loài có sắc là nhân trong thế giới “lưu ngại” luân hồi, điên đảo về chướng, nên hòa hợp với trước thành tám muôn bốn ngàn loạn tưởng tinh diệu, vì vậy, nên có yết-nam sắc tướng trôi lăn trong cõi nước, các loài hưu cữu, tinh minh đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Loài này thuộc về “lưu ngại” luân hồi, nó điên đảo về chướng. Chướng là ngăn ngại bởi có sắc, nó hòa hợp với trước mà thành. Trước là hiện rõ có thể thấy, tức thành sắc. Ngài Hàm Thị dạy thêm, do chấp cứng cái vọng tưởng tinh minh đó mà thành có hiển trước, như những loài tinh tú trên trời, loài gá vào linh vật để báo điềm tốt, xấu ở đời đều gọi là loài có sắc.

 

CHÁNH VĂN:

Loài không sắc là nhân trong thế giới “tiêu tán” luân hồi, điên đảo về hoặc, nên hòa hợp với ám thành tám muôn bốn ngàn loạn tưởng thầm ẩn, vì thế, nên có yết-nam vô sắc trôi lăn trong cõi nước, các loài không tán, tiêu, trầm đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Loài này thuộc về “tiêu tán” luân hồi, điên đảo về hoặc tức là mê mờ, nó hòa hợp với ám (mờ tối) mà thành, cho nên gọi là vô sắc, không rõ ràng. Ngài Hàm Thị gọi là nhàm chán cái có để trở về cái không, rồi chẻ cái sắc làm không thành tối tăm bất giác. Ở trên là cõi Vô sắc, giữa là chủ thần kỳ, còn ở dưới là những quỷ mị u ẩn.

 

CHÁNH VĂN:

Loài có tưởng, nhân trong thế giới “võng tượng” luân hồi, điên đảo về ảnh, nên hòa hợp với ức thành tám muôn bốn ngàn loạn tưởng tiềm kết vì thế có yết-nam hữu tưởng trôi lăn trong cõi nước, các loài thần quỷ, tinh linh đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Loài này thuộc về “võng tượng” luân hồi, võng tượng tức là từ xa mà tưởng tượng thôi chứ không có thật. Điên đảo về ảnh (bóng dáng), tức là những bóng dáng hòa hợp với ức (nhớ tưởng) thành loạn tưởng tiềm kết (ngầm ẩn) không thật, chỉ là tưởng thôi. Ngài Hàm Thị gọi là mờ tối, không có chủ, không có tưởng nhớ, dường như sáng dường như tối, cho nên nó không rõ ràng. Có mà không, giống như chợt có chợt không, ham mộ sự linh thông tùy theo chỗ nhớ tưởng mà hiện ra các thứ quỷ u ám.

 

CHÁNH VĂN:

Loài không tưởng là nhân trong thế giới “ngu độn” luân hồi, điên đảo về si, nên hòa hợp với ngoan thành tám muôn bốn ngàn loạn tưởng khô cảo, vì thế có yết-nam vô tưởng trôi lăn trong cõi nước, các loài tinh thần hóa làm đất, cây, vàng, đá đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Những tinh chất của các thứ đất, cây, vàng, đá thuộc “ngu độn” luân hồi, điên đảo về si, hòa hợp với ngoan (tức vô tri) mà thành. Ngài Hàm Thị giải có hai loại: “Một là do sự huân tập ngu độn đời trước, hai là do pháp tu tập giống như diệt tâm, diệt trí, như cây, đá không biết gì. Trên tột là trời Vô tưởng, sức định đến tám muôn kiếp nhưng rốt sau cũng đọa xuống; còn dưới là những tinh thần hóa làm cây, làm vàng, làm đá đều thuộc về loài không tưởng”.

 

CHÁNH VĂN:

Chẳng phải có sắc tức là nhân trong thế giới “tương đối” luân hồi, điên đảo về ngụy nên hòa hợp với nhiễm thành tám muôn bốn ngàn loạn tưởng nhân y, vì thế có yết-nam chẳng phải có sắc tướng mà có sắc, trôi lăn trong cõi nước, các loài thủy mẫu v.v…. lấy con tôm làm mắt đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Loài chẳng phải có sắc này thuộc về “tương đối” luân hồi, điên đảo về ngụy (tức dối trá) rồi hòa hợp với cái nhiễm mà thành. Ngài Hàm Thị gọi là “nhân nương nơi kẻ khác để lợi ích cho mình”. Đây là những người tu tập hạnh nghiệp nương nơi kẻ khác để lợi ích cho mình, khéo mượn cái hư dối như là con thủy mẫu mượn con tôm làm mắt, rồi nắm lấy vật thành thân thể ăn nhờ mà gá mạng sống vào, một phen đổi như vậy là mê mất cái thiên chân.

 

CHÁNH VĂN:

Loài chẳng phải không sắc là nhân trong thế giới “tương dẫn” luân hồi, điên đảo về tánh, nên hòa hợp với chú mà thành ra tám muôn bốn ngàn loạn tưởng hô triệu, vì vậy thành có yết-nam chẳng phải không sắc tướng mà không sắc trôi lăn trong cõi nước, chú trớ, yểm sanh các loài đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Loài này là thuộc về “tương dẫn” luân hồi (hấp dẫn lẫn nhau), điên đảo về tánh hòa hợp với chú (tức là chú trớ) mà thành, vốn tự không có sắc, nhân nơi chú trớ hô triệu mà thành tinh mị. Đây là do tự nó không có chủ, chỉ theo bóng, gá với tiếng, thậm chí tiếng dâm, lời bi xen lẫn nhau mà dẫn đến có cử động. Do có thói quen thành tánh, nghe tiếng vang mà đến, sống mất chủ, chỉ nhờ nghe chú trớ hô triệu thì hiện, hay nghe tiếng vang mà đến.

 

CHÁNH VĂN:

Loài chẳng phải có tưởng là nhân trong thế giới “hợp vọng” luân hồi, điên đảo về vọng, nên hòa hợp với dị mà thành ra tám muôn bốn ngàn loạn tưởng hồi hỗ. Vì vậy, có yết-nam chẳng phải có tướng tưởng mà thành tưởng trôi lăn trong cõi nước, những giống tò vò mượn chất khác thành cái thân của mình đầy dẫy.

GIẢNG GIẢI:

Dị tức là khác, hồi hỗ tức là xen lẫn qua lại với nhau. Loài chẳng phải có tưởng này thuộc về “hợp vọng” luân hồi, nó hợp với cái vọng, điên đảo về vọng, hòa hợp với cái khác mà thành. Ngài Hàm Thị luận: “Về nhân là xả bỏ cái nặng làm cái nhẹ, chấp lấy cái đơn sơ làm cái sâu kín. Cái ân không gì lớn hơn mà thế gian lại quên đi”. Tức là những kẻ quên ân, tình cờ đồng một nghĩa nên phải chịu quả báo sống giống như con tò vò mượn chất khác mà thành thân mình.

 

CHÁNH VĂN:

Loài chẳng phải không tưởng là nhân trong thế giới “oán hại” luân hồi, điên đảo về sát, nên hòa hợp với quái thành tám muôn bốn ngàn tư tưởng ăn thịt cha mẹ, vì vậy có yết-nam không phải tướng tưởng mà không tưởng, trôi lăn trong cõi nước, như chim thổ cưu ấp khối đất làm con và chim phá kính ấp trái cây độc làm con, con lớn lên thì cha mẹ đều bị chúng ăn thịt, các loại ấy đầy dẫy. Ấy gọi là mười hai loài chúng sanh vậy.

GIẢNG GIẢI:

Loài này là thuộc về loài “oán hại” luân hồi, tạo những nhân oán hại với nhau, điên đảo về giết hại, hòa hợp với quái mà thành. Ngài Hàm Thị gọi là từ oán hại mà sanh ra ân ái. Ân ái là có tưởng, oán hại thì không tưởng, suy tìm cái nhân thì sẽ thấy từ trong nghĩa thương mến nhau mà khởi ra cái tưởng sân hận giết hại; từ trong nghĩa thương mến tự không thể xa lìa mà sân hận và sát hại cũng là chỗ hẳn phải lộ ra. Như chim thổ cưu ăn thịt mẹ, chim phá kính ăn thịt cha, đều do nghiệp cũ tạo thành; mặc tình theo nghiệp yêu ghét mà dùng lẫn lộn với nhau. Tức là yêu mà không được thì giết, kết thành những oán hại. Mới thấy thế giới chúng sanh đủ thứ điên đảo.

Học tới đây rồi, chúng ta thấy đâu có cái gì đáng để tham đắm trong thế giới điên đảo như vậy. Sanh vào đây là do sự mê lầm bất giác nào có vui sướng gì! Biết rồi phải tu để ra khỏi luân hồi, đó là việc quan trọng. Như vậy, gốc là từ diệu tánh tròn sáng sẵn có mà không chịu sống, lại bất giác theo cái sáng mà vọng khởi ra có thế giới chúng sanh điên đảo hiện bày. Tức là từ chỗ không có danh tướng mà thành có danh tướng sai biệt đầy dẫy.

Tuy nhiên, ngay trong chỗ thế giới chúng sanh hiện có đây, nó vẫn không rời diệu tánh tròn sáng, đó là điểm đặc biệt, cũng là cái ân lớn để chúng ta tu tập trở về. Ngay khi sống trong thế giới chúng sanh điên đảo này, dẫy đầy những thứ hư dối sai biệt, nhưng vẫn không rời diệu tánh tròn sáng. Cho nên nói vọng không rời cái chân, bởi vì cái có này cũng là “điên đảo có” chứ không phải thật có nên tánh nó vẫn là không, có nhưng mà tánh vẫn là không. Như vậy, nó có mà cũng không thật có, tức là nó cũng không rời chân tánh, người khéo ngay đó ngộ trở lại thì diệu tánh vốn tròn sáng sẵn có từ bao giờ không mất.

Trong kinh Kim Cang, Phật bảo rõ: “Thế giới tức chẳng phải thế giới, chúng sanh tức là chẳng phải chúng sanh”. Đó là nhắc cho tất cả chớ có lầm mê trong đây mãi mà quên cội nguồn chân thật sẵn có của mình, là cái quý báu mà lại bỏ quên.

Thiền sư Sở Nam khi đến tham vấn Ngài Hoàng Bá, Ngài Hoàng Bá hỏi:

- Thế nào là trước khi ông chưa hiện hình bóng ở trong ba cõi?

Câu này với người thường cũng khó trả lời.

Ngài Sở Nam thưa:

- Hiện nay đâu phải có.

Ngài Hoàng Bá bảo:

- Có, không hãy gác lại, tánh hiện nay là thế nào?

Sở Nam thưa:

- Chẳng phải xưa nay.

Ngài Hoàng Bá bảo:

- Pháp nhãn của ta chính ở nơi ông.

Đó là chỗ khai thị để người thấy trở về. Hỏi cái gì là trước khi hiện hình bóng trong ba cõi? Nghe qua liền tưởng tượng xa xôi thuở nào, lúc chúng ta chưa có vào trong tam giới này. Đó là sống theo tưởng tượng.

Ngài Sở Nam nói thẳng, ngay cái tức hiện nay cũng đâu phải có, nói gì xa xôi. Ngay đây nó cũng không phải thật nhưng tại người chấp thôi. Ngay đây cũng đâu rời cái vốn sẵn kia, thấy suốt qua không có gì ngăn ngại; đâu phải là bỏ đây mà hướng về cái kia. Khi các Ngài mở sáng mắt đạo rồi, chỗ thấy thông suốt cả xưa nay. Không phải bỏ cái này tìm cái khác. Ngay cái vọng, cái mê lầm điên đảo đây, khéo tỉnh trở lại là đầy đủ sẵn hết, nên nói là “tức hiện nay đâu phải có”. Ngộ thì ngay đây không rời cái đó, nào phải suy tưởng xa xôi. Đây là chỗ mỗi người chúng ta cần phải tin nhận trở về, đừng quá tin vào cái điên đảo hư vọng này, lầm đi trong luân hồi xoay vần không có ngày ra. Đó là nói về thế giới chúng sanh điên đảo.

Đây Phật mới trách lại:

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Như vậy trong mỗi mỗi loài chúng sanh cũng đều có đầy đủ mười hai thứ điên đảo, cũng như ấn con mắt thì thấy hoa đốm lăng xăng phát sanh. Chân tâm diệu viên thanh tịnh sáng suốt mà điên đảo thì đầy đủ những thứ tư tưởng càn loạn giả dối như vậy. Nay ông tu chứng Tam-ma-địa của Phật, đối với những tư tưởng càn loạn làm nguyên nhân cội gốc của các thứ điên đảo, nên lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt được, như trong cái bình sạch trừ bỏ mật độc, dùng nước nóng và các thứ tro, chất thơm rửa sạch cái bình kia, rồi sau mới đựng được nước cam lộ.

GIẢNG GIẢI:

Đây Phật trách: “Trong mỗi mỗi loài chúng sanh đều có đủ mười hai thứ điên đảo như thế”, cuộc sống của con người chúng ta sống toàn trong điên đảo, nhưng điên đảo này cũng không rời cái thật.

Đây Phật nhắc lại cho rõ: “Cái chân tâm diệu viên thanh tịnh sáng suốt lại không nhận ra, mà ở trong đó điên đảo thành ra đầy đủ những thứ tư tưởng càn loạn giả dối như vậy”. Đó là ở trong cái vô sanh mà đành nhận lấy cái có sanh, mà cái có sanh này là vọng sanh, rồi lẩn quẩn trong sanh tử hư vọng, điên đảo trôi lăn, quên mất đường về. Nếu ngay đó ngộ trở lại, liền thấy rõ mình vốn tự vô sanh từ thuở nào. Cái quý báu như vậy mà chúng ta không khéo nhận trở lại, mãi lo tham đắm trong cái vọng sanh này, rồi trôi lăn lẩn quẩn trên cái hư vọng. Thấy có đau không?

Ở đây, trước khi chỉ ra thứ lớp tu tập trở về, Phật chỉ thẳng lẽ thật đó.

Kế, Phật mới chỉ ra ba thứ tiệm tạm lập để trừ sạch những thứ điên đảo, mà sống trở về với chân tâm diệu viên. Cái điên đảo vốn không có thật, nên nói “trừ” đây là cũng không có cái thật trừ, chỉ là phương tiện tạm lập. Do đó, Phật ngừa trước để chúng ta không mắc kẹt trong thứ lớp tu chứng này kia. Đây Phật mới chỉ ra ba món tiệm thứ.

 

CHÁNH VĂN:

Thế nào gọi là ba món tiệm thứ? Một là tu tập trừ bỏ trợ nhân; hai là tu chân để gột sạch chánh tánh; ba là tăng tấn trái lại với hiện nghiệp.

GIẢNG GIẢI:

Đây nêu tên ba món tiệm thứ tu tập:

Thứ nhất là tu tập để trừ bỏ trợ nhân, trợ nhân tức là trừ những thứ giúp cho phiền não phát sanh. Nó chưa phải là cái chánh nhưng nó giúp phiền não phát sanh.

Thứ hai là tu chân để gột sạch chánh tánh, tức là gột sạch gốc rễ. Đây mới là căn bản, không để cho có chỗ sanh trở lại.

Thứ ba là tăng tấn hay tăng tiến trái với những hiện nghiệp, là ngược dòng hiện nghiệp để trở về gốc chân thật.

 

CHÁNH VĂN:

Thế nào là trợ nhân? A-nan! Mười hai loài chúng sanh trong thế giới như thế, không thể tự an toàn mà phải nương bốn cách ăn mới sống còn. Nghĩa là nương theo đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Thế nên Phật nói, tất cả chúng sanh đều nương nơi cái ăn mà sống còn.

GIẢNG GIẢI:

Chúng ta sống là nhờ vào cái ăn, tùy theo nghiệp báo của mỗi loài mà cách ăn có thô có tế.

Thứ nhất là đoạn thực (có chỗ gọi là đoàn thực). Tức lấy ba thứ trần là hương, vị và xúc làm thể, cách ăn này là ăn từng phần, từng miếng, như cách ăn ở nhân gian của chúng ta.

Thứ hai là xúc thực, tức là xúc chạm với cảnh mà sanh vui thích thành no, đó cũng là một cách ăn.

Thứ ba là tư thực, là lấy việc mong mỏi, nghĩ nhớ làm cách ăn. Thí dụ như mong mỏi cảnh đáng ưa thích thì cũng thành ra việc ăn. Như các cõi trời hoặc là cõi thiền tư thì dùng thiền tư (hay thiền duyệt) làm việc ăn.

Thứ tư là thức thực, tức là lấy cái thức làm thể để duy trì mạng sống. Như chúng sanh ở cõi Vô sắc thì chỉ dùng thức để sống, và chúng sanh ở địa ngục cũng vậy.

Đó là bốn cách ăn của chúng sanh. Ở cõi Dục thì có đủ bốn thứ, cõi Sắc thì có hai thứ là tư thực và thức thực. Còn cõi Vô sắc và cõi địa ngục thì chỉ có thức thực.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Tất cả chúng sanh ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết. Vậy chúng sanh cầu Tam-ma-địa, nên dứt bỏ năm thứ rau cay trong thế gian.

GIẢNG GIẢI:

Phật chỉ khi ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết. Biết vậy, chúng ta ăn thức lành chứ đừng ăn thức độc. Rồi tu hành Tam-ma-địa cũng vậy, chúng sanh cầu Tam-ma-địa thì nên dứt bỏ năm thứ rau cay trong thế gian.

 

CHÁNH VĂN:

Năm thứ rau cay đó ăn chín thì phát lòng dâm, ăn sống thì thân sanh lòng giận. Những người ăn các thứ rau cay đó trên thế gian dẫu giảng nói được mười hai bộ kinh, Thiên tiên trong mười phương ghét mùi hôi đó đều tránh xa cả, các loài quỷ v.v…. nhân trong lúc người kia ăn rau cay đó đến liếm môi mép người đó; người ấy cùng ở chung với quỷ một chỗ, phước đức ngày càng tiêu mòn, hằng lâu không được lợi ích. Người ăn rau cay đó tu Tam-ma-địa, Bồ-tát, Thiên tiên, thiện thần không đến giữ gìn ủng hộ; Đại lực quỷ vương được phương tiện ấy hiện thân Phật nói pháp cho người kia nghe, khiến chê bai phá giới cấm, khen ngợi dâm dục, nóng giận và si mê, khi mạng chung tự làm quyến thuộc với Ma vương. Khi hưởng phước ma hết rồi đọa vào địa ngục vô gián. A-nan! Người tu đạo Bồ-đề, thường phải đoạn hẳn năm thứ rau cay, ấy gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.

GIẢNG GIẢI:

Thứ nhất là trừ năm thứ cay hôi (ngũ vị tân), đó là trợ nhân giúp cho những phiền não sanh khởi. Năm thứ chất cay, chất hôi này ăn chín thì phát lòng dâm, còn ăn sống sanh lòng giận, tức kích thích lòng dâm và lòng nóng giận. Lại có mùi hôi nên thiện thần xa lánh, do đó cần phải ngừa tránh, nhờ vậy khi tu tập thiền định mới dễ thành tựu. Còn không thì những thứ này làm hao tổn lợi ích của chúng ta.

Thứ hai là nói về gột sạch chánh tánh.

 

CHÁNH VĂN:

Thế nào là chánh tánh? A-nan! Chúng sanh tu Tam-ma-địa như vậy, trước hết cần yếu phải nghiêm trì giới luật cho thanh tịnh, đoạn hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan! Người tu hành đó, nếu không đoạn dâm dục và sát sanh mà muốn ra khỏi ba cõi, thì thật không có lẽ ấy. Phải quán sự dâm dục như là rắn độc, như thấy giặc thù.

GIẢNG GIẢI:

Phần gột sạch chánh tánh này là phải nghiêm trì giới luật thanh tịnh. Trước nêu là phải đoạn hai thứ dâm và sát, kế sau nói đủ về tứ khí, bát khí. Tức muốn ra khỏi ba cõi mà không đoạn dâm, sát thì không thể được, cho nên đây Phật nói rõ là phải nghiêm trì giới luật cho thanh tịnh và đoạn hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt. Bởi dâm dục là cái nhân kéo dài trong sanh tử, còn sát thì phải đền trả lẫn nhau trong sanh tử.

 

CHÁNH VĂN:

Trước hết giữ gìn giới tứ khí, bát khí của Thanh Văn, giữ thân không lay động. Sau hành trì luật nghi thanh tịnh của Bồ-tát, giữ tâm không dấy khởi.

GIẢNG GIẢI:

Nêu rõ giữ gìn bốn giới trọng của Tỳ-kheo, còn Tỳ-kheo-ni là tám giới trọng, gọi là bát khí, tứ khí. Người tu phạm giới đây rồi giống như chết bỏ đi. Đây Phật nói trước đối với giới Thanh Văn giữ thân không động, sau mới hành trì luật nghi thanh tịnh của Bồ-tát, giữ tâm không dấy khởi.

Bởi vì giới Thanh Văn thân có phạm mới thành tội, còn giới Bồ-tát thì vừa khởi tâm là phạm rồi, tế nhị hơn. Đó là nói về sự sai biệt đại, tiểu, còn chỗ sâu xa, thật ra không phải là Thanh Văn chỉ giữ giới nơi thân, nếu giữ nơi thân thì làm sao giải thoát. Quan trọng là ở nơi tâm, người học phải thầm hiểu, không phải nghe vậy rồi cứ lo giữ nơi thân không lo giữ tâm.

 

CHÁNH VĂN:

Cấm giới đã thành tựu, thì đối với thế gian hẳn không có những nghiệp sanh sát lẫn nhau. Không làm việc trộm cắp, thì không vay nợ lẫn nhau, đối với thế gian khỏi phải đền trả lại nợ trước. Người thanh tịnh ấy tu Tam-ma-địa liền chính nơi thân thịt của cha mẹ sanh ra, không cần thiên nhãn mà tự nhiên xem thấy mười phương thế giới, gặp Phật, nghe Pháp, chính mình vâng lãnh thánh chỉ của Phật, được pháp đại thần thông, dạo đi trong mười phương cõi nước; túc mạng thanh tịnh không còn những điều khó khăn hiểm trở; ấy gọi là tiệm thứ tu hành tinh tiến thứ hai.

GIẢNG GIẢI:

Giữ cấm giới thanh tịnh, đoạn tâm dâm, không có dâm dục là dứt mầm sanh với nhau. Còn đoạn tâm sát thì dứt mầm giết hại đền trả với nhau. Đoạn tâm trộm thì dứt mầm vay, trả nợ với nhau, là cởi bỏ trói cột với nhau để tiến đến giải thoát.

Được như vậy thì tâm thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh thì tu chánh định dễ thành tựu viên thông. Tâm thanh tịnh rồi tu dễ định, vượt qua những chướng ngại của thân tâm hư dối mà đạt được tâm thông. Cho nên đây gọi là ngay nơi thân thịt này không cần thiên nhãn mà xem thấy suốt mười phương, gặp Phật, nghe pháp, được đại thần thông, nhớ túc mạng. Đó là lợi ích của thành tựu chánh định, tâm thông.

 

CHÁNH VĂN:

Thế nào gọi là hiện nghiệp? A-nan! Người trì giới thanh tịnh như vậy, tâm không tham dâm, đối với sáu trần bên ngoài không hay dong ruổi, nhân không dong ruổi, nên tự xoay trở về tánh bản nguyên. Trần đã không duyên theo, thì căn không ngẫu hợp nơi đâu nữa. Trở ngược dòng về chỗ toàn nhất, sáu cái dụng không khởi hiện hạnh, cõi nước mười phương sáng suốt trong sạch, ví như trong ngọc lưu ly có treo mặt trăng sáng.

GIẢNG GIẢI:

Người trì giới thanh tịnh rồi tâm không tham dâm, không dong ruổi theo sáu trần bên ngoài, tự xoay trở về tánh bản nguyên là cội nguồn chân thật. Với trần không duyên theo thì căn không có hợp, là xoay sáu căn trở về nguồn chân thật. Sở dĩ trần sanh được là do căn duyên theo, trần mới có chỗ bám, còn căn xoay trở lại rồi thì trần mất chỗ bám, là hết chỗ sanh. Tức thấy, nghe, hiểu, biết tự hợp trở về thể chân thật sáng suốt xưa nay (chỗ không hai). Căn trần hết che mờ gọi là như viên ngọc lưu ly ngậm ánh trăng, trong ngoài đều sáng; đó gọi là trái với hiện nghiệp trở về gốc chân thật, là chỗ thân chứng, người tu tập sẽ thầm cảm nhận được.

 

CHÁNH VĂN:

Thân tâm khoan khoái tánh diệu viên bình đẳng, được đại an ổn; tất cả mật viên thanh tịnh nhiệm mầu của Như Lai đều hiện trong đó; người ấy tức chứng được pháp Vô sanh nhẫn. Từ đó lần lượt tu tập tùy theo các hạnh phát ra mà an lập Thánh vị, đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.

GIẢNG GIẢI:

Tâm trong sáng rồi, ngay nơi niệm hiện tiền đây thông suốt đến chỗ nhiệm mầu thanh tịnh của Như Lai, không phải tìm đâu xa, ngay đây cảm thông đến Như Lai, được pháp Vô sanh nhẫn. Tức là có sức làm chủ đối với các pháp, lấy đó làm căn bản, chỗ sống được an ổn, rồi lần lượt trở về cho đến rốt ráo viên mãn. Những thứ lớp về sau này chỉ ra cũng để sống trở về viên mãn chỗ chân thật đây, không phải có thêm cái gì khác.

Ở đây, Ngài Hàm Thị gọi là được cái thể của Càn Tuệ, đó là bước đầu. Nhưng bước đầu cũng là cuối, cuối rồi thì cũng hợp trở về gốc thôi. Vì chúng ta chưa hoàn toàn sống trọn vẹn, nên còn phải có thứ lớp để trở về, nhưng cái thứ lớp trở về đó cũng trở về sống trọn vẹn trong đây thôi chứ không phải thêm cái thứ hai, nhớ như vậy để không mắc kẹt trên thứ lớp.

Tóm lại, ba loại tiệm thứ tu tập căn bản này, trước là phải trừ trợ nhân, tức là tránh ăn năm thứ cay hôi là ngũ vị tân, là trợ nhân kích thích thêm lòng dâm, lòng sân. Thứ hai là gột sạch chánh tánh, là nghiêm trì giới luật, giữ bốn giới trọng thanh tịnh, gạn lọc thân tâm, đoạn cái nhân kéo dài sanh tử. Thứ ba là trái với hiện nghiệp, tức sáu căn xoay trở về gốc chân thật, không theo trần để trần không có chỗ hợp với căn thì thấy, nghe, hiểu, biết sẽ sáng suốt khế hợp trở về với chân tâm thường trụ; tức ngay nơi niệm hiện tiền sẽ cảm thông đến chỗ sâu xa thanh tịnh nhiệm mầu của Như Lai. Và đây là gốc căn bản để chúng ta tiến lên sống trở về viên mãn Vô thượng Bồ-đề. Đó là những điều cần phải nắm vững.

Kế đây là phần an lập các Thánh vị, là phần sâu xa thuộc về tu chứng, nên phải hết sức chú tâm, lắng lòng nghe mới có cảm được sâu.

 

1. Càn Tuệ Địa

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử ấy ái dục đã khô cạn, căn và cảnh không phối hợp, thân tâm hiện tiền không còn tiếp tục sanh nữa. Do chấp tâm vô minh, tức cái tâm chấp đó rỗng sáng, thuần là trí tuệ, tánh trí tuệ được sáng suốt cùng khắp soi thấu mười phương cõi nước, chỉ có cái tuệ khô khan ấy, nên gọi là “Càn Tuệ địa”, tập khí ngũ dục mới khô cạn, chưa tiếp giáp với dòng nước pháp của Đức Như Lai.

GIẢNG GIẢI:

Vị Càn Tuệ này mới được cái tuệ khô. Ngài Hàm Thị có giải vị Càn Tuệ địa này là con mắt của Căn bản trí, là bước đầu rất quan trọng. Do ái dục khô cạn, căn và cảnh không còn phối hợp với nhau, thân tâm không còn chỗ tiếp tục sanh, nên cái tâm chấp thủ được rỗng sáng, thuần là trí tuệ soi thấu cả mười phương, không bị các pháp làm ngăn ngại. Tuy nhiên, tập khí ngũ dục mới khô cạn, chưa phải là sạch hết, còn phải tiến tu lên các vị Thập Tín, Thập Trụ v.v… song bước này là bước quan trọng.

Đã được lên Càn Tuệ địa rồi lấy đây làm căn bản tiến tu, dù trải qua các vị sau nhưng mỗi vị cũng không rời Càn Tuệ địa này tức là Căn bản trí; luôn luôn Căn bản trí phải đi theo đó không thiếu sót. Được Càn Tuệ địa này như là nền tảng vững để tiến tới, cho nên vị này rất là quan trọng.

 

2. Thập Tín

CHÁNH VĂN:

Tức lấy cái tâm ấy đúng ngay nơi chính giữa lần vào, tánh diệu viên khai mở, từ chỗ chân diệu viên lại phát ra chân diệu. Tánh diệu tín thường trụ, tất cả vọng tưởng diệt hết không còn, trung đạo được thuần chân, gọi là Tín Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Lấy cái tâm ấy đúng ngay nơi chính giữa mà vào, tâm ấy tức là tâm Càn Tuệ trước. Ngay đúng giữa lần vào, tức không rơi bên này bên kia. Vị này được tín tâm chân thật thẳng vào bản giác trung đạo, là không kẹt hai bên, vọng tưởng không sanh, đây gọi là tánh diệu tín thường trụ; tất cả vọng tưởng đều diệt hết không còn, trung đạo được thuần chân, là được Tín Tâm Trụ. Tức tin và trụ được nơi tâm.

 

CHÁNH VĂN:

Chân tín sáng tỏ, tất cả đều viên thông, cả ba thứ là ấm, xứ, giới, không thể làm ngại. Như thế cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai xả thân, thọ thân, tất cả tập khí đều hiện trước mắt, thiện nam tử ấy thường hay nhớ nghĩ được không quên mất điều gì thì gọi là Niệm Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Chữ Niệm là trí nhớ không quên, gọi là chân tín sáng tỏ. Là tín tâm ở trước được sáng tỏ, tất cả đều được viên thông, nên ba thứ ấm, xứ, giới không làm ngăn ngại. Nghĩa là khi tâm chân tín được sáng tỏ thấu qua ấm, xứ, giới không còn ngại, tất cả những tập khí xưa nay hiện ra trước mắt nhưng tâm chân tín ấy vẫn không mất, tức được tâm chuyên nhớ không quên, nên gọi là Niệm Tâm Trụ. Ngài Hàm Thị gọi là như người mới thức giấc, tất cả những cảnh trong mộng rõ ràng như đang thấy.

 

CHÁNH VĂN:

Tánh diệu viên thuần chân, chân tinh phát hóa ra các tập khí từ vô thủy đều thông vào một tánh tinh minh. Chỉ dùng cái tinh minh ấy mà tiến đến chỗ chân tịnh, gọi là Tinh Tấn Tâm.

GIẢNG GIẢI:

Tánh diệu viên thuần chân phát hóa ra các tập khí từ vô thủy đều thông vào một tánh tinh minh, nên chỉ dùng cái sáng suốt tinh minh ấy mà tiến đến chỗ chân tịnh là chỗ thanh tịnh chân thật, gọi là Tinh Tấn Tâm. Nghĩa là Căn bản trí càng sáng, tuy tập khí chưa thật hết nhưng đều thông vào một tánh tinh minh, không làm ngăn ngại. Do đó mà cứ thẳng tiến, được tâm tinh tiến thẳng đến chỗ chân tịnh.

 

CHÁNH VĂN:

Tâm tinh hiện tiền thuần dùng trí tuệ, gọi là Tuệ Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Tức là tâm ấy hiện tiền, trí tuệ càng được thuần thục, nên gọi là Tuệ Tâm Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Giữ gìn trí tuệ sáng suốt lặng trong cùng khắp, tánh tịch diệu thường đứng lặng, gọi là Định Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Trí càng vững nhờ lý tánh tịch diệu thường đứng lặng, đây gọi là giữ gìn trí tuệ sáng suốt lặng trong cùng khắp không động, nên gọi là Định Tâm Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Định quang phát sáng đi sâu vào tánh sáng suốt, chỉ tiến không có lùi, gọi là Bất Thối Tâm.

GIẢNG GIẢI:

Bất thối tâm là không có lui sụt, chỉ có tiến mà không có lùi, định và tuệ càng vững. Định mà phát sáng tức là định có tuệ, do đó đi sâu vào tánh sáng suốt, vững tiến không có lùi.

 

CHÁNH VĂN:

Tâm an nhiên mà tiến tới giữ gìn không cho mất, giao tiếp với khí phần mười phương Như Lai, gọi là Hộ Pháp Tâm.

GIẢNG GIẢI:

Tâm an nhiên tiến tới giữ gìn không mất, giao tiếp được khí phần của mười phương Như Lai, tức tâm bất thối ở trước cứ như thế mà thuận dòng tiến lên thầm hợp với khí phần của mười phương Như Lai.

 

CHÁNH VĂN:

Giữ gìn tánh Giác Minh, có thể dùng diệu lực xoay từ quang của Phật về nơi mình, hướng về Phật mà an trụ, cũng như hai mặt gương ánh sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm mầu ấy, lớp lớp lồng nhau, gọi là Hồi Hướng Tâm.

GIẢNG GIẢI:

Tức là xoay ánh sáng của Phật về tự tâm chính mình, nên tâm tâm thường sáng không lầm các bóng trong đó, đây gọi là giữ gìn tánh giác minh diệu lực mà xoay từ quang của Phật về nơi mình, rồi hướng về Phật mà an trụ. Giống như hai mặt gương, ánh sáng gương này ánh sáng gương kia đối nhau, ở trong đó hiện từng lớp lồng nhau nhưng không có sai lầm gì. Bởi xoay ánh sáng của Phật về nơi tự tâm, nên tâm tâm thường sáng, ở trong những tâm niệm đó có bóng gì hiện ra đều rõ ràng không lầm.

 

CHÁNH VĂN:

Tâm quang thầm xoay trở về được vô thượng diệu tịnh thường trụ của Phật, an trụ nơi vô vi không bị sót mất, gọi là Giới Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Đến vị này, ánh sáng Phật ở nơi tự tâm của mình thầm cảm ứng trong chỗ thanh tịnh nhiệm mầu. Vì nó luôn an trụ trong chỗ vô vi không sanh diệt, mà nó không rơi vào trong hữu vi, là được Giới Tâm Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Tự tại an trụ nơi giới, có thể dạo khắp mười phương tùy theo nguyện mà đi, gọi là Nguyện Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây tâm trụ trong giới vô vi không cần cố gắng, tự tại an trụ nơi giới, tùy nguyện dạo khắp mười phương, nhưng vẫn không rơi vào hữu vi, tức vẫn an trụ trong vô vi. Đó là được vị thứ mười trong Thập Tín.

Mười vị Thập Tín này, tức là mười cái tâm tiến lên từ tâm Càn Tuệ địa, tiến dần lên càng đi sâu vào, nhưng cũng không ngoài tâm Càn Tuệ địa.

 

3. Thập Trụ

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử đó dùng phương tiện chân chánh phát mười thứ tâm ấy, tâm tinh đã phát sáng, mười cái dụng ấy xen lẫn với nhau viên thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Mười thứ tâm ấy là mười tâm Thập Tín ở trước, nhân mười thứ tâm Thập Tín đó làm phương tiện để lìa vọng và hiển bày cái chân thật. Do tự tâm sáng tỏ xen lẫn với nhau không rời một niệm hiện tiền, gọi là viên thành một tâm, tức thuần là một tâm, đây gọi là Phát Tâm Trụ, là vị thứ nhất trong Thập Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Trong tâm phát ra sáng suốt như ngọc lưu ly trong sạch, bên trong hiện ra vàng ròng, dùng cái diệu tâm trước kia sửa sang thành chỗ nương đứng, gọi là Trị Địa Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Trị địa, chữ trị là sửa sang, tức là cái tâm đã phát sáng, chân trí hiện ở trong đó, cho nên khéo dùng mười thứ diệu tâm ở chỗ Thập Tín mà tu hành chân thật đạp lên trên đất Phật, gọi là sửa sang thành chỗ nương đứng, là Trị Địa Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Tâm địa biết khắp đều được rõ ràng, dạo đi cả mười phương không có gì ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Tâm địa biết khắp không mê, đi qua tất cả mà không bị cái gì làm mê, cho nên gọi là Tu Hành Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Hạnh đồng với Phật, nhận khí phần của Phật, như thân trung ấm tự tìm cầu cha mẹ, ấm tin thầm thông vào giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây hạnh đồng với Phật, thầm hợp với Chánh giác, thông tin tức với hạt giống của Như Lai. Đây nói là giống như thân trung ấm tự tìm cầu cha mẹ, rồi ấm tin đó được thầm thông để vào thai sanh; gọi là thầm thông với hạt giống của Như Lai, nên gọi là Sanh Quý Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Đã vào thai đạo, chính mình được nối theo dòng Giác, như cái thai đã thành, tướng người không thiếu khuyết, gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Đây chính thức vào được dòng Chánh giác như cái thai đã thành, nhưng diệu dụng chưa đủ. Giống như thai đã thành, tướng người không thiếu khuyết, nhưng chưa có hoạt động được, tức là chưa được sanh ra ngoài, chưa đầy đủ diệu dụng như người lớn. Đây gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Dung mạo như Phật, tâm tướng cũng đồng, gọi là Chánh Tâm Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Tâm tướng cũng đồng tức là quyền trí và thật trí, hai trí giúp nhau, lý và trí đầy đủ, dung mạo cũng như Phật, gọi là Chánh Tâm Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Thân tâm hợp thành, mỗi ngày càng tăng trưởng, gọi là Bất Thối Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Quyền trí và thật trí, hai thứ đều đầy đủ, càng ngày càng tăng tiến đến chỗ viên mãn, được gọi là Bất Thối Trụ.

 

CHÁNH VĂN:

Linh tướng mười thân một thời đầy đủ, gọi là Đồng Chân Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Cái trí thể đã đủ, chỉ cần các chướng hết là nó hiện bày. Ở đây gọi là linh tướng của mười thân một thời đầy đủ, mười thân là chỉ cho: 1- Thân Bồ-đề; 2- Thân nguyện; 3- Thân hóa; 4- Thân trụ trì (thân Xá-lợi hay giữ gìn Phật pháp); 5- Thân tướng hảo trang nghiêm, 6- Thân vi tế; 7- Thân ý sanh (tùy ý sanh); 8- Thân phước đức; 9- Thân pháp (Pháp thân); 10- Thân trí tuệ.

Mười thân này, trong đó ba thân Bồ-đề thân, Pháp thân và Vi tế thân thuộc về thật trí. Còn năm thân là Nguyện thân, Hóa thân, Trụ trì thân, Ý sanh thân và Phước đức thân thuộc về quyền trí. Hai thân Tướng hảo trang nghiêm thân và Trí tuệ thân thì thông cả quyền lẫn thật.

 

CHÁNH VĂN:

Hình đã thành ra khỏi bào thai, chính mình làm Phật tử, gọi là Pháp Vương Tử Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Bấy giờ, giống như là đã ra khỏi thai thành người, chính mình là Phật tử. Ở trước là còn ở trong thai, giờ ra khỏi thai rồi nên kham nhận tiếp nối được dòng giống của Phật. Ngài Ôn Lăng giải: Từ “Phát Tâm Trụ” đến “Sanh Quí Trụ” thuộc về nhập Thánh thai; từ “Phương Tiện Cụ Túc Trụ” đến “Đồng Chân Trụ” là nuôi lớn Thánh thai; trong đó Thánh thai được nuôi lớn, công phu nuôi lớn đã thành tựu gọi là ra khỏi Thánh thai, nên đây gọi là ra khỏi Thánh thai thành Pháp Vương Tử.

 

CHÁNH VĂN:

Nghi biểu đã thành người lớn, như khi một Quốc vương đem các việc nước giao phó cho Thái tử kia lúc Thái tử trưởng thành, bày ra lễ quán đảnh, gọi là Quán Đảnh Trụ.

GIẢNG GIẢI:

Giống như là Thái tử được lớn lên, trưởng thành, được Vua cha làm lễ quán đảnh để nhận ngôi vua. Như Bồ-tát đủ sức thay Phật độ chúng sanh, nhận chức vị Đại trí; giống như Thái tử con Vua Chuyển Luân, trưởng thành rồi được Vua cha cầm cái bình bằng vàng, trong bình đựng nước bốn biển rưới lên trên đảnh thọ chức vị ngôi vua.

Đây là trải qua mười vị thuộc trong Thập Trụ.

 

4. Thập Hạnh

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử ấy đã thành Phật tử rồi, đầy đủ vô lượng diệu đức của Như Lai và tùy thuận mười phương, gọi là Hoan Hỷ Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Bồ-tát tu tập đến đây đầy đủ vô lượng công đức của Như Lai rồi khởi hạnh, tùy thuận làm lợi ích chúng sanh và xả bỏ ý riêng của mình, gọi là Hoan Hỷ Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Khéo làm lợi ích cho chúng sanh, gọi là Nhiêu Ích Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Trên là hoan hỷ khéo làm lợi ích cho chúng sanh, rồi giúp chúng sanh trừ cái khổ phiền não phát khởi cái vui Bồ-đề, được nhiều lợi lành chân thật, không làm tổn hại chúng sanh nên gọi là Nhiêu Ích Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Tự giác và giác tha được không chống trái, gọi là Vô Sân Hận Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Nhờ làm lợi ích chúng sanh mà được sức nhẫn tùy thuận không sân hận, tự giác và giác tha được không chống trái nhau nên được Vô Sân Hận Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Theo chủng loại mà hiện ra sắc thân, tột mé vị lai, ba đời bình đẳng, mười phương đều thông suốt, gọi là Vô Tận Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Tùy thuận chúng sanh hiện thân hình để làm lợi ích rộng lớn không ngưng nghỉ, nên đây gọi là Vô Tận Hạnh. Nghĩa là hiện ra sắc thân làm lợi ích chúng sanh suốt cả ba đời, mười phương không có ngưng nghỉ, nên gọi là Vô Tận Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Tất cả đều hợp về đồng, trong mỗi mỗi pháp môn được không sai lầm, gọi là Ly Si Loạn Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây, thấu suốt các pháp sai biệt không rời trí tuệ chân thật, nên không bị cái nhiều làm loạn, do đó tất cả đều hợp về đồng; rồi trong mỗi mỗi pháp môn được không sai lầm. Đó gọi là Ly Si Loạn Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Ở trong cái đồng hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng, nên gọi là Thiện Hiện Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Thiện hiện là khéo hiện. Ở trong cái đồng mà hiện ra các cái khác, rồi mỗi mỗi tướng khác lại thấy là đồng; không kẹt nơi đồng nơi khác nên gọi là thiện hiện. Đây tức đồng tức khác, xóa tan ranh giới giữa đồng và khác, sự lý được viên thông, tự tại vô ngại; không bị cái đồng cái khác làm ngăn che, gọi là Thiện Hiện Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Như vậy, cho đến mười phương hư không đầy khắp vi trần, và trong mỗi mỗi vi trần hiện ra mười phương cõi nước. Hiện vi trần hay hiện cõi nước không ngăn ngại nhau. Đó gọi là Vô Trước Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Vô trước là không dính mắc. Hiện vi trần, hiện cõi nước nhưng không dính mắc. Tức hiện nhỏ hiện lớn đều vô ngại, không bị cái ngã và ngã sở che mờ. Chúng ta không được như vậy là bởi cái ngã và ngã sở che mờ, ngăn ngại nên hiện vào đâu là dính mắc ở đó.

 

CHÁNH VĂN:

Các thứ hiện tiền đều là đệ nhất Ba-la-mật, gọi là Tôn Trọng Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Các thứ hiện tiền đều là đệ nhất Ba-la-mật, tức không gì ra ngoài Ba-la-mật. Ngay các thứ hiện tiền đều hiển bày nghĩa chân thật nên không thêm bớt gì trong đó thì đâu có mê nữa. Đây được gọi là Tôn Trọng Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Viên dung như thế, có thể thành khuôn phép của chư Phật trong mười phương, gọi là Thiện Pháp Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Thiện pháp là pháp lành, tức là làm tất cả hạnh đều vô ngại, có thể khế hợp với khuôn phép của mười phương Như Lai. Nghĩa là thực hành, làm tất cả những hạnh lợi ích cho chúng sanh nhưng đều vô ngại. Đó gọi là Thiện Pháp Hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Mỗi mỗi đều là nhất chân Vô vi thanh tịnh vô lậu, vì tánh bản nhiên là như vậy, gọi là Chân Thật Hạnh.

GIẢNG GIẢI:

Mỗi mỗi hạnh đều là nhất chân Vô vi thanh tịnh vô lậu, không rời cái vô lậu, vì tánh bản nhiên như vậy chứ không phải là cố gắng. Bởi nó hiện tất cả đều là diệu dụng của tự tánh nên không có gì ngăn ngại, do đó làm mà không có mê. Đến đây được hạnh chân thật, mỗi mỗi đều là nhất chân Vô vi thanh tịnh, đều là diệu dụng của tự tánh nên gọi là Chân Thật Hạnh.

 

5. Thập Hồi Hướng

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử ấy đầy đủ thần thông, Phật sự đã thành tựu toàn là một tinh chân thuần khiết, xa lìa các lỗi lầm, chính khi hóa độ chúng sanh mà diệt các năng độ, sở độ. Xoay tâm Vô vi hướng về đường Niết-bàn, gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Chính khi hóa độ chúng sanh mà diệt các tướng năng độ và sở độ, không thấy có mình độ, người độ; do đó, xoay cái tâm Vô vi hướng về đường Niết-bàn. Ngài Hàm Thị giải: “Còn phải lấy cái hạnh để thành lý. Tâm tự lợi thù thắng, là tâm còn chút thù thắng về tự lợi, cho nên đối với vị Hồi hướng thứ nhất này riêng hồi hướng về tâm khiến phát sanh rộng lớn, độ chúng sanh mà không thấy có tướng độ, trí năng độ đều quên, gọi là Vô vi chân thật. Cái lý được độ cũng dứt, đó là chân Niết-bàn”.

Bồ-tát do trí, bi bình đẳng mới có thể cứu độ chúng sanh mà lìa tướng chúng sanh. Tức là làm mà không thấy có tướng làm, thì đó gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh mà Lìa Tướng Chúng Sanh Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Diệt hoại cái gì có thể diệt hoại, xa lìa các thứ có thể xa lìa, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Ở đây, chứng được thật tướng để làm lợi ích chúng sanh rộng lớn, tột các tướng hư huyễn, cho nên diệt hoại cái gì có thể diệt hoại, xa lìa cái gì có thể xa lìa. Ngài Hàm Thị giải rõ thêm là trên tự tánh khởi một niệm trước tướng đều là cái có thể hoại diệt, còn trên pháp tánh mà khởi một tướng xa lìa là còn có chỗ để xa lìa. Ở đây, diệt hoại hết những cái gì có thể diệt hoại, xa lìa hết những gì có thể xa lìa, đó gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Tánh bản giác đứng lặng, giác ngộ bằng với Phật, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Tâm giác ngộ rõ biết không có hai, lấy đây hồi hướng về Phật đạo, thấu suốt qua chúng sanh và chư Phật. Không thấy tâm giác của mình và tâm giác của Phật thành hai cái riêng biệt, gọi là giác ngộ bằng với Phật, nhưng không phải ngay đây đã đồng với Phật. Đó gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Tinh chân phát ra sáng suốt, địa đồng như Phật địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Tinh chân tức là cái chân thật tinh thuần không tạp loạn. Tinh chân là thể, phát sáng là dụng, thể dụng đầy đủ, khiến lý và sự được dung thông, thì cái giác đồng như Phật nhưng mà chưa phải Phật. Rồi địa cũng đồng như Phật, không sai khác. Ngay tại chỗ mà biến khắp mười phương ứng hiện không cùng, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Thế giới và Như Lai xen lẫn vào nhau không ngăn ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Là có thể là ứng thân ở nơi Thế giới mà không có gì ngăn ngại, phát sanh tất cả các công đức không cùng tận, nên gọi là Thế giới và Như Lai xen lẫn vào nhau không ngăn ngại. Phần này Kinh Hoa Nghiêm nói là người mà trụ nơi vị Hồi Hướng này thì được mười thứ Vô Tận Tạng, là mười cái kho vô tận: 1- Thấy Phật 2- Vào pháp 3- Nhớ giữ 4- Tuệ quyết định 5- Hiểu rõ nghĩa thú 6- Ngộ không có bờ mé 7- Được phước đức 8- Trí giác dõng mãnh 9- Được biện tài 10- Sức không có gì sợ sệt. Gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Nơi đồng với Phật địa, trong ấy phát sanh ra các nhân thanh tịnh, nương nhân ấy mà phát huy đi đến đạo Niết-bàn, gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Đây là từ nơi đồng Phật địa ở trên, từ đó phát huy thành cái nhân thanh tịnh, lấy nhân thanh tịnh đó mà tiến đến chứng quả Niết-bàn. Như vậy, quả này cũng là cái quả đủ ở trong cái nhân chứ không phải là ở ngoài cái nhân mà riêng có. Ngài Hàm Thị gọi là thuận theo dòng mà đến, chứng sâu căn lành bình đẳng giữa Phật và chúng sanh. Dùng đây để hồi hướng, đó gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Gốc chân thật đã thành tựu, thì chúng sanh trong mười phương đều là bản tánh của mình, tánh ấy thành tựu viên mãn, không bỏ sót chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Đây tiếp ở vị trước là cái gốc chân thật thiện căn bình đẳng đã thành tựu, rồi từ đó mới phát khởi đồng thể đại bi, là đối với tất cả chúng sanh bình đẳng thương xót. Bởi xem thấy mười phương chúng sanh đều là bản tánh của mình, không phải riêng; ngoài tánh ấy không thật có chúng sanh nào riêng có, nên mới khởi được đồng thể đại bi, không bỏ sót chúng sanh nào.

Thấy đến như thế, là thấy mười phương chúng sanh đều là bản tánh của mình, không ngoài bản tánh mà thật có chúng sanh nào riêng, mới có thể độ tận chúng sanh. Đây mới gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng sanh Hồi Hướng. Còn chúng ta vì còn có ngã nên thấy mình khác, chúng sanh khác; chúng sanh ngoài mình, do đó mà sự tu hành còn phải xóa bỏ ranh giới đó.

 

CHÁNH VĂN:

Tức tất cả pháp ly tất cả tướng, cả tức và ly hai thứ đều không dính mắc, gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Ngay nơi tất cả pháp mà lìa tất cả pháp, rồi dứt cả hai tức và ly, không còn có cái tâm lấy bỏ kia đây, cao thấp, được tùy chỗ đều khế hợp với chân như. Đây gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng.

 

CHÁNH VĂN:

Thật được như như, mười phương vô ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Vô phược tức là không còn trói buộc. Khi thật được như như rồi thì mười phương đều không ngăn ngại. Nghĩa là dứt tất cả cái “tức” và cái “ly”, không còn gì “tức” và “lìa” nữa, mặc tình vào khắp mười phương, thể hiện tâm đại bi tự tại, không còn ngăn ngại. Chúng ta tuy qua được cái “ly” nhưng còn kẹt cái “tức” cũng chưa phải là rốt ráo. Còn thấy tức cũng là còn thấy có hai, cái này tức cái kia, là vẫn còn dấu vết cái hai, đó là chỗ vi tế.

 

CHÁNH VĂN:

Tánh đức thành tựu viên mãn, lượng của pháp giới dứt, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.

GIẢNG GIẢI:

Đây là dứt luôn cả lượng của pháp giới. Nghĩa là tánh đức được thành tựu viên mãn, tột cùng chân như nên mất cái lượng pháp giới, bình đẳng như hư không. Lấy đây mà hồi hướng thì vô lượng nguyện hạnh đều được thành tựu, cho nên gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.

Đó là mười thứ Hồi Hướng. Qua Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng rồi, còn phải qua Tứ Gia Hạnh rồi mới vào hàng Thập Địa. Tứ Gia Hạnh là bốn hạnh do hành giả gia công tu hành vươn lên vào Thập Địa.

 

6. Tứ Gia Hạnh

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử ấy tu hết bốn mươi mốt tâm thanh tịnh ấy rồi, kế đến thành tựu bốn thứ gia hạnh diệu viên. Tức là lấy Phật giác dùng làm tâm mình, như ra nhưng chưa ra, cũng như dùi cây ra lửa mà đốt lại cây, gọi là Noãn Địa.

GIẢNG GIẢI:

Noãn là hơi nóng. Ở trước đã diệu ngộ được diệu tánh viên thông hay Căn bản trí, đó là được cái thể nhưng dụng chưa đầy đủ. Nên hành giả không dừng ở chỗ diệu ngộ đó mà tiếp tục hướng thượng tiến lên tu hành trải qua bốn mươi mốt tâm, từ Càn Tuệ Địa cho đến Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Tuy là có thứ lớp trải qua nhưng cũng không rời Căn bản trí chân thật ban đầu, nên trải qua mọi địa đều mang Căn bản trí theo. Thế nên, chúng ta thấy ngộ Căn bản trí rất là quan trọng, tuy trải qua thứ lớp nhưng từ ban đầu cũng không rời ngoài Căn bản trí chân thật; chỉ phát huy để thành tựu thể dụng viên thông mà quân bình định tuệ.

Đến đây có gia công dụng hạnh nhưng cũng không rời diệu tánh viên thông ban đầu là Căn bản trí. Thành ra cái diệu viên tức cái tròn đầy nhiệm mầu, khi gia công dụng hạnh là khéo được tròn đầy Căn bản trí chứ không phải là riêng có thêm cái gì khác. Cái gia hạnh đầu lấy giác của Phật làm tâm mình nhưng chưa quên được tâm. Đây chỉ là hướng tâm xoay Phật giác, nhưng chưa thành được Phật giác, nên nói rằng giống như ra mà chưa ra, chỉ được hơi ấm, là được tiến thêm bước nữa về gia công dụng hạnh.

 

CHÁNH VĂN:

Lại lấy cái tâm mình làm chỗ đứng của Phật, hình như nương gá nhưng không phải nương, như lên chót núi cao thân đã vào hư không, nhưng ở dưới còn chút ngăn ngại, gọi là Đảnh Địa.

GIẢNG GIẢI:

Đảnh giống như còn có chỗ đứng, tức lấy tâm mình làm chỗ đứng của Phật, nhưng chưa quên được chỗ đứng của tâm, như lên chót núi cao, thân đã vào hư không mà ở dưới còn có chút ngăn ngại, nên chưa vào được Thập Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Tâm và Phật đồng, khéo được trung đạo, ví như người biết nhẫn không phải ôm vào chẳng phải cho ra, gọi là Nhẫn Địa.

GIẢNG GIẢI:

Tâm và Phật đồng, khéo vào nơi Trung đạo không hai. Tức là tâm và Phật không phân chia. Giống như người biết nhẫn, không phải ôm vào cũng không phải cho ra, đây chỉ là thầm hợp, gọi là Nhẫn Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Số lượng đều tiêu diệt, mê-giác và trung đạo cả hai đều không có gì để gọi, gọi là Thế Đệ Nhất Địa.

GIẢNG GIẢI:

Vượt qua hết số lượng, mê-giác và trung đạo cũng không còn, tức là không còn thấy chia ra đây là mê, đây là giác, hay là trung đạo nữa. Giống như Chuyển Luân Thánh Vương, phước bằng với chư Thiên nhưng vẫn chưa rời khỏi nhân gian, chỗ này rất vi tế. Đây cũng vậy, mê-giác và trung đạo quên hết, không còn gì để gọi, nhưng vẫn còn có chút gì đó chưa sạch, nên chỉ gọi là Thế Đệ Nhất Địa. Chúng ta thấy việc tu hành vi tế lắm chứ không phải như tưởng tượng. Phải nhảy cho qua các tầng chứng này rồi mới vào được Thập Địa. Thập Địa tức là thân chứng.

 

7. Thập Địa

CHÁNH VĂN:

A-nan! Thiện nam tử ấy đối với đại Bồ-đề khéo được thông đạt, chỗ giác ngộ thông suốt với Như Lai, cùng tột cảnh giới của Phật, gọi là Hoan Hỷ Địa.

GIẢNG GIẢI:

Trong Lăng Nghiêm Chỉ Chưởng giải: “Vị này ngay đó lìa niệm, chân như hiện tiền, nên đối với đại Bồ-đề khéo được thông đạt” và “bởi do trí năng giác sâu xa, thông với trí Như Lai, lý sở giác gồm tột cả cảnh giới Phật, nên kết gọi Hoan Hỷ Địa”. Đây là Địa thứ nhất, là chỗ giác ngộ thông suốt với Như Lai, cùng tột được cảnh giới của Phật.

 

CHÁNH VĂN:

Tánh khác nhập với đồng, tánh đồng cũng diệt luôn, gọi là Ly Cấu Địa.

GIẢNG GIẢI:

Tánh khác nhập với đồng, tánh đồng cũng diệt, tức mất luôn cái tánh đồng, là Ly Cấu Địa.

Ở vị trước, Hoan Hỷ Địa là chỗ giác ngộ thông suốt, cùng tột cảnh giới của Phật, đó là đạt sâu được tánh đồng. Đến Địa thứ hai này, tánh đồng diệt mất luôn. Kia là còn có tánh đồng, tức còn có chỗ đồng để mà đồng, đến đây là sạch hết luôn không còn có chỗ đồng để mà đồng, chỉ là một thể trí tuệ thanh tịnh, không có gì có thể làm nhơ, nên gọi là Ly Cấu Địa. Không phải là còn có cái nhơ để mà lìa nữa. Đây là hết còn chỗ nào để làm nhơ được nữa mới thật sự là ly cấu.

 

CHÁNH VĂN:

Thanh tịnh cùng tột sáng suốt phát sanh, gọi là Phát Quang Địa.

GIẢNG GIẢI:

Tức là từ một thể thanh tịnh cùng tột mà phát sáng suốt chớ không phải từ bên ngoài vào. Ngài Hàm Thị giải là “Cái sáng suốt đó từ tánh thanh tịnh mà được chớ không phải do nơi định phát ra”, đây gọi là Phát Quang Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Sáng cùng tột, thì giác viên mãn, gọi là Diệm Tuệ Địa.

GIẢNG GIẢI:

Nghĩa là từ chỗ sáng suốt cùng tột ở trước tiến lên, tâm giác ngộ được viên mãn, vượt qua hết các chướng, thành trí tuệ sáng rực. Ngài Hàm Thị giải rõ “Không bị cái hiện chướng ràng buộc, giác tâm được sáng sạch, bền chắc và bén nhạy”. Đây gọi là Diệm Tuệ Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Tất cả đồng-khác không thể đến được, gọi là Nan Thắng Địa.

GIẢNG GIẢI:

Khác là chỉ cho chúng sanh, chúng sanh là tướng khác, mà Phật là đồng. Giờ đây không vướng vào hai tướng chúng sanh và Phật nữa, nên được đại tự tại, gọi là Nan Thắng Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Bản tánh vô vi chân như thanh tịnh tỏ lộ, gọi là Hiện Tiền Địa.

GIẢNG GIẢI:

Nghĩa là vượt qua được tánh đồng và khác, bản tánh vô vi chân như thanh tịnh tùy chỗ được hiển bày không ngăn ngại. Đây không còn nói tịnh nói nhiễm nữa, cho nên chân như hiện tiền tỏ lộ, gọi là Hiện Tiền Địa.

 

CHÁNH VĂN:

Tột bờ mé chân như, gọi là Viễn Hành Địa.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây, được cùng tột nơi bờ mé chân như, xa hẳn những công dụng gia hạnh ở trước, gần đến vô công dụng tức là vô tác, đó gọi là Viễn Hành Địa, giống như là đi xa.

 

CHÁNH VĂN:

Một tâm chân như, gọi là Bất Động Địa.

GIẢNG GIẢI:

Đây chỉ là một tâm chân như không thêm bớt. Công dụng gia hạnh cũng hết, thành tựu vô tác. Kinh Hoa Nghiêm gọi là: “Vào tất cả pháp xưa nay không sanh”.

 

CHÁNH VĂN:

Phát dụng chân như, gọi là Thiện Tuệ Địa.

GIẢNG GIẢI:

Ở trước là tột bờ mé chỉ còn một tâm chân như, giờ phát được cái dụng chân như. Kinh Lăng Nghiêm Chánh Mạch có giải: “Ở vị trước là được toàn thể chân như, còn vị này là phát đại dụng chân như, tức xứng với thể mà khởi dụng, đó là lý tự nhiên”.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Các vị Bồ-tát ấy từ đây về trước công hạnh tu tập đã xong, công đức được viên mãn, cũng gọi địa này là tu tập vị, bóng từ mây diệu trùm che biển Niết-bàn, gọi là Pháp Vân Địa.

GIẢNG GIẢI:

Đến đây là trải qua những công hạnh tu tập đoạn mê lầm để chứng chân thật đã thành tựu. Nên nói là công đức được viên mãn, bi và trí đầy đủ, che khắp pháp giới chúng sanh, trùm cả biển Niết-bàn, gọi là Pháp Vân Địa. Là Địa thứ mười.

 

8. Đẳng Giác và Diệu Giác

CHÁNH VĂN:

Như Lai ngược dòng trở lại, vị Bồ-tát đó thuận dòng đi tới giác ngộ vào chỗ giao tiếp với nhau, gọi là Đẳng Giác.

GIẢNG GIẢI:

Như Lai ngược dòng từ nơi mé giác đi ra, còn Bồ-tát là thuận dòng để vào mé giác. Đến đây là giao tiếp với nhau nên gọi là Đẳng Giác. Đúng ra, chỗ này chúng ta tu chưa tới nhưng học biết qua, để khi tới liền biết.

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Từ tâm Càn Tuệ đến Đẳng Giác rồi, giác đó mới được Sơ càn tuệ địa trong tâm kim cang. Như vậy, lớp lớp tu đơn, tu kép mười hai vị mới cùng tột Diệu Giác, thành đạo Vô thượng.

GIẢNG GIẢI:

Từ nơi Càn Tuệ đến Đẳng Giác là từ cạn tiến sâu vào, trải qua mỗi vị đều không rời tâm Càn Tuệ trước, nhưng càng ngày càng đi sâu vào, càng ngày càng hiển bày công dụng đầy đủ cho đến viên mãn. Tu chứng đến Đẳng Giác mới thật sự thân chứng đầy đủ tâm Càn Tuệ, công đức viên mãn. Và chứng đó cũng là chứng tâm Càn Tuệ ban đầu hay Căn bản trí, nhưng sau đó là phát khởi đại dụng đầy đủ. Như vậy, chứng đó cũng là chứng tột cái tâm ban đầu kia chứ không phải là có cái thứ hai, phải nhớ kỹ điều đó.

Lại từ Càn Tuệ trải qua Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, đó là mười hai vị có tu đơn, tu kép. Nghĩa là một vị thì có một vị gọi là đơn, còn một vị mà gồm cả mười hai gọi là kép. Tu đến Diệu Giác mới là cùng tột, gọi là thành đạo Vô thượng, không còn có gì trên nữa.

 

CHÁNH VĂN:

Các thứ Địa ấy đều do trí tuệ Kim Cang quán sát mười thứ thí dụ như huyễn sâu xa trong Xa-ma-tha (chỉ), dùng các pháp Tỳ-bà-xá-na (quán) của Như Lai mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt đi sâu vào.

GIẢNG GIẢI:

Mười thí dụ như huyễn:

1- Người huyễn 2- Sóng nắng, giống như trời nắng đi xa nhìn trong cát thấy dợn như dợn sóng, đi tới không có gì 3- Trăng dưới nước, xa thấy như dưới nước có trăng, đến gần không có gì. 4- Hoa đốm hư không, tức là mắt mỏi thấy trong hư không có đốm đốm giống như hoa nhưng sự thật không có gì 5- Tiếng vang trong hang. 6- Thành Càn-thát-bà, như người đi biển thấy xa xa có cái thành hiện, nhưng đến gần thì không có gì. 7- Chiêm bao 8- Bóng 9- Hình tượng 10- Hóa. Đó là mười thí dụ như huyễn.

Các thứ Địa ấy đều do trí tuệ Kim Cang quán sát mười thí dụ như huyễn sâu xa, là dùng trí tuệ Kim Cang Như Huyễn chặt đứt tất cả những tình chấp, không thấy cái gì thật thì mới sạch được. Phương tiện thực hành cả hai pháp là Chỉ và Quán, lần lượt tiến vào cho đến viên mãn. Tức là Định-Tuệ đồng tu, cân bằng chớ không nghiêng lệch.

Do không thấy có một pháp thật ở ngoài tâm thì còn chỗ nào để mà bám, chỗ nào để mà duyên?

 

CHÁNH VĂN:

A-nan! Như thế đều do ba thứ tiệm thứ tăng tiến, nên khéo thành tựu năm mươi lăm vị trong đường Bồ-đề Chân Thật. Quán xét như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán.

GIẢNG GIẢI:

Kết lại, do ba thứ tiệm thứ đó mà tăng tiến đến rốt ráo con đường Bồ-đề chân thật. Tuy nói có các Địa vị trải qua thứ lớp nhưng rốt lại cũng chỉ là một tâm giác từ cạn đến sâu. Không phải trải qua hết các Địa vị đó là thành có năm mươi mấy con người riêng, mỗi lần như vậy thì được một con người khác, được một tâm khác. Coi chừng lầm! Ban đầu được thể mà cái dụng chưa đầy đủ, dần dần cái dụng phát khởi, cho đến viên mãn thể dụng đầy đủ, viên thông trọn vẹn, là thành công. Nghĩa là không có cái gì riêng khác ngoài tâm thể Diệu giác, thành ra nói là chứng mà thật không có gì khác để chứng. Nói trừ mà thật không có cái để trừ, rốt ráo là sạch hết dấu vết được-mất. Nếu còn thấy có cái để trừ thì chưa thật trừ.

Như vậy, tuy nói thứ lớp mà không kẹt nơi thứ lớp, không phải là được Địa vị này, Địa vị kia rồi mắc kẹt vào nó, đó chẳng qua là những phương tiện để đi sâu vào vậy thôi. Cũng như nghe nói viên dung nhưng không kẹt nơi lý suông, không phải viên dung là sẵn vậy rồi không cần tu hành nữa. Tức không mắc kẹt nơi viên dung, không mắc kẹt nơi thứ lớp, mới tiến thẳng trên đường Bồ-đề không ngăn ngại.

Vì đây là phần tu chứng chúng ta chưa trải qua, nhưng biết được đường đi rồi chúng ta không có tự mãn, cũng không dám buông lung giải đãi. Nhiều khi học qua lý suông nghe nói tự tánh đầy đủ rồi không cần tu gì nữa, thành giải đãi buông lung. Hoặc là nghe nói tu thứ lớp trải qua lâu xa không biết bao giờ mới thành Phật rồi chán. Cả hai điều đó đều là mắc kẹt. Hiểu rõ rồi chúng ta có được niềm tin vững chắc nơi chính mình, từ đó tiến tu cho đến khi sống trọn vẹn với tâm diệu dụng viên dung là xong. Đó là khéo tu.

Kinh - Luật - Luận

adv3

Video giới thiệu

Tập:
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • 12
  • 13
  • 14
  • 15
  • 16
  • 17
  • 18
  • 19
  • 20
  • 21
  • 22
  • 23
  • 24
  • 25
  • 26
  • 27
  • 28
  • 29
  • 30
  • 31
  • 32
  • 33
  • 34
  • 35

Tìm kiếm

Ảnh đẹp

Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp

Lịch

Thống kê truy cập

  • Lượt truy cập: 61706
  • Online: 15